Việt Nam và Hoa Kỳ: Một cặp tình nhân không cân xứng

Posted on Tháng Ba 30, 2012 bởi

0



Trần Văn Minh dịch, BasamNews
David Brown*,
Asia Sentinel

Một liên minh trong thuận tiện trở thành một quan hệ chiến lược.

Đặc biệt vào năm bầu cử Mỹ này, những vấn đề nhân quyền sẽ thử thách sự bền vững trong việc lập lại mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, kẻ thù xưa mà hình như bây giờ đang trở thành bạn tốt.

Hoa Kỳ sẽ không cần lấy lại điều này.

Viên chức từ Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn gặp nhau thường xuyên vào những ngày này. Một kẻ nghe trộm những cuộc tiếp xúc như thế có thể kết luận rằng nỗi nghi kỵ của hai thế hệ trước, vốn được người Việt Nam gọi là “chiến tranh chống Mỹ”, chỉ là một chướng ngại nhỏ trên con đường dẫn tới sự giao hảo.

Thực ra, các viên chức có nhiều điều để bàn thảo. Họ sửa soạn một danh sách dài những quyền lợi chung bao gồm thương mại hai chiều đang bùng phát, suy tính về một hợp tác quân sự, sự hỗ trợ của Hoa Kỳ về vấn đề y tế công cộng, giáo dục và dự thảo về bảo vệ môi trường và một hiệp ước để mở đường cho việc chuyển giao kỹ thuật nguyên tử Mỹ.

Khi nghi thức nâng ly bắt đầu sau một ngày đàm phán, người ta thấy nhắc đến bước ‘tiến triển’ nổi bật trong sự hợp tác giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn.

Điều đáng kể không phải vấn đề kẻ thù xưa bây giờ trở thành bạn, nhưng là một liên minh trong thuận tiện đã được tô điểm và phô diễn như một mối ‘liên hệ chiến lược’.

Hai mục đích dẫn đường Hà Nội trong mối quan hệ trở lại với Hoa Kỳ:

  • Năng lực của nhà cầm quyền để đem lại sự phát triển kinh tế bền vững cho người dân Việt Nam tùy thuộc chính yếu vào vấn đề tiếp cận dễ dàng với thị trường Mỹ và tài chính đầu tư, và
  • Sự hợp tác của quân đội Hoa Kỳ sẽ làm cho Trung Quốc phải nghĩ lại về tham vọng bá quyền ở biển Đông.

Liên hệ kinh tế hai chiều đã được tiến hành từ đầu thập niên 1990, khi sự sụp đổ của Liên Xô phá gẫy cây chống cho nền kinh tế ‘xã hội chủ  nghĩa’ mong manh. Quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ đã được thiết lập vào năm 1996, và một hiệp ước thương mại song phương đã được thương thảo vào giữa năm 1999.

Tuy nhiên, hơn một năm sau, Bộ Chính Trị mới phê chuẩn hiệp ước thương mại. Trước tiên, phải thuyết phục phe bảo thủ dứt bỏ sự nghi ngờ về động lực của Mỹ – cụ thể được mô tả là hỗ trợ cho ‘diễn biến chính trị hòa bình’ theo mô hình Đông Âu. Trở ngại đó đã vượt qua. Vào năm 2007, với sự cố vấn của Mỹ và khuynh hướng đổi mới thắng thế trong đảng và nhà nước, Hà Nội đã gia nhập vào Tổ Chức Thương mại Thế Giới (WTO).

Tuy nhiên, WTO đã không gây ra ảnh hưởng mạnh đối với nền kinh tế như những nhà đổi mới dự đoán. Trước sự khăng khăng của giới bảo thủ trong đảng cộng sản đầy quyền lực, Hà Nội vẫn tiếp tục nuông chiều một hệ thống doanh nghiệp nhà nước béo phì và thiếu hiệu quả. Hệ quả nghịch lý này đã vắt cạn lợi nhuận mà người Việt trông đợi từ quá trình toàn cầu hoá.

Sự bế tắc về chính sách trong việc cải tổ doanh nghiệp nhà nước có thể giải thích sự quyết định khá bất ngờ của chính quyền Việt Nam khi theo chân Hoa Kỳ trong việc đàm phán ‘Đối Tác Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương’ (TPP). Những thành viên khác tham gia đàm phán TPP là Singapore, New Zealand, Brunei, Mã Lai Á, Úc Châu và Peru và sớm sẽ có thêm Nhật Bản, Nam Hàn, Gia Nã Đại, Mễ Tây Cơ và Đài Loan – nhưng đáng chú ý là không có Trung Quốc. Việt Nam là nước kém phát triển nhất trong nhóm.

TPP từng được mô tả là bàn đạp cho Hiệp Ước Thương Mại Tự Do Châu Á – Thái Bình Dương và một ‘khuôn mẫu của thế kỷ 21’ đòi hỏi thành viên phải tự do hóa thương mại về nông phẩm và dịch vụ, dỡ bỏ giới hạn nhập khẩu và tăng cường việc bảo vệ tài sản trí tuệ.

Khi hiệp ước TPP thành hình, Hà Nội chắc chắn sẽ được lợi trong việc tiếp cận dễ dàng hơn với thị trường các quốc gia phát triển cho hàng xuất khẩu của mình. Tuy nhiên, để đổi lại, Hà Nội cũng sẽ bị bắt buộc phải chấm dứt tình trạng mất cân đối do chính sách thị trường nội địa ưu đãi lãnh vực tập đoàn quốc doanh và chú tâm đến quyền lợi lao động và vấn đề bảo vệ tài sản trí tuệ. Đây có lẽ thực sự là chủ đích của những nhà cải cách, có nghĩa là, họ hy vọng dùng hiệp ước mở cửa thị trường mới này để thúc đẩy sự đồng thuận về chính sách trong việc cải tổ cơ cấu trong nước.

Sự hợp tác an ninh giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là một hiện tượng chỉ mới đây, và là điểm then chốt của chiến lược toàn cầu hóa quốc phòng của Việt Nam. Hà Nội cũng theo đuổi quan hệ quân sự gần gũi hơn với những láng giềng Châu Á, Úc, Nhật Bản, Ấn Độ, Pháp và Nga. Hà Nội hy vọng những mối quan hệ này sẽ hỗ trợ khả năng chống lại sự lấn chiếm của Trung Quốc trong những vùng biển tranh chấp. Dĩ nhiên không phải Hà Nội muốn đánh nhau. Lãnh đạo Hà Nội e ngại sức mạnh của Trung Quốc và – trên nền tảng giữa hai đảng – tôn trọng tình bạn với Trung Quốc miễn là họ ngưng những hành động bắt nạt.

Sự khẳng định của Việt Nam không nhượng bộ trong vấn đề chủ quyền biển đảo rất phù hợp với quyết tâm của Hoa Kỳ trong việc ngăn ngừa bất cứ hạn chế nào về tự do giao thông qua eo biển Malacca và đường thủy vận Biển Đông. Ngũ Giác Đài đã hăng hái gia tăng thao luyện quân sự với Việt Nam, chú tâm đến công việc tìm kiếm và giải cứu, an ninh hàng hải và cứu trợ thiên tai. Có những chuyến tàu thăm viếng được phổ biến sâu rộng cũng như sự trao đổi tin tức tình báo quân sự khá thận trọng. Tuy nhiên, trước sự thất vọng của Hà Nội, Hoa Thịnh Đốn đã từ chối trước yêu cầu mua vũ khí sát thương của Hà Nội.

Thái độ của chính quyền Việt Nam trước vấn đề nhân quyền của nhà cầm quyền Việt Nam vẫn còn là một trở ngại lớn trong quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam. Một thế hệ người Mỹ gốc Việt mới hiểu biết chính trị không những quan tâm đến vấn đề này mà còn có thể dùng lá phiếu để ảnh hưởng. Nhất là trong năm bầu cử của Mỹ này, sự đàn áp những nhà bất đồng chính kiến ở Việt Nam có thể thọc chiếc gậy vào trong guồng máy thương lượng về an ninh và thương mại song phương.

Điều đó không phải là sự ngạc nhiên cho Hà Nội. Các viên chức Hoa Kỳ từ Ngoại trưởng Hillary Clinton trở xuống đã nhấn mạnh rằng sự kiềm chế của Việt Nam đối với “tiêu chuẩn nhân quyền toàn cầu” là một trở ngại cho mối liên hệ gần gũi hơn. Hai thượng Nghị sĩ John McCain và Joseph Lieberman đã công khai lên tiếng khi hai ông ghé thăm Hà Nội: Việt Nam “có một danh sách dài những mặt hàng quân sự đang thèm muốn, (nhưng) … Điều này sẽ không xảy ra trừ khi họ cải thiện hồ sơ nhân quyền”.

Sự liên hệ giữa thành tích nhân quyền và sự tiếp cận của Việt Nam với thị trường Mỹ không trực tiếp mấy. Trong khi việc bán vũ khí cho Việt Nam đòi hỏi sự chấp thuận đặc biệt của Quốc hội Hoa Kỳ, nhưng sẽ không chắc rằng Quốc hội sẽ từ chối hợp tác nếu hiệp ước TPP được ký kết. Nền xuất cảng của Việt Nam vẫn có thể bị thương tổn nếu Quốc hội Hoa Kỳ đặt thêm những điều khoản trong tiến trình soạn thảo luật, bao gồm một hiệp ước đầu tư song phương và một hợp đồng về chuyển giao kỹ thuật nguyên tử.

Có nhiều cách để vấn đề nhân quyền có thể ảnh hưởng thái độ của Mỹ. Thí dụ, vào ngày 20 tháng Ba, Việt Nam bị đấm bởi một ủy hội được Quốc hội Hoa Kỳ thành lập để theo dõi cách hành xử của những quốc gia khác về vấn đề tự do tôn giáo. Ủy hội khuyến cáo chỉ định Việt Nam là một “Quốc gia đáng quan tâm,” xếp chung với cùng loại như Bắc Hàn, Trung Quốc, Iran và Sudan. Cụ thể là ủy hội tố cáo Việt Nam về “những vi phạm tự do tôn giáo và tín ngưỡng mang tính hệ thống và nghiêm trọng” trong năm 2011.

Việt Nam thoát khỏi sổ đen về tự do tôn giáo của Hoa Kỳ từ năm 2006. Lập lại điều này không đòi hỏi chính quyền Hoa Kỳ phải cấm vận Việt Nam – nhưng nó là một cái cớ thuận tiện để Quốc hội từ chối những điều Hà Nội muốn từ Hoa Kỳ.

Liệu sự lên án của ủy hội có thúc đẩy Việt Nam thay đổi hành vi?  Chắc chắn là không – Hà Nội thường cố thủ khi bị áp lực. Rất hiếm hoặc không có khả năng nhà cầm quyền Cộng sản chứng tỏ sự khoan dung hơn cho những ai đòi hỏi dân chủ đa nguyên đa đảng hay những người đòi hỏi quyền được thiết lập những tổ chức tôn giáo, lao động hay ngành nghề bên ngoài các cấu trúc nhà nước. Đây là những vấn đề “ổn định xã hội” nền tảng đối với nhà cầm quyền. Cho dù với khuynh hướng đổi mới hay bảo thủ, lãnh đạo Hà Nội xem việc giữ vững quyền chuyên chế độc tài của Đảng thì quan trọng hơn so với bất cứ quan hệ chiến lược hay hiệp ước thương mại nào.

Trung Quốc cũng có thể là một vấn đề. Một mối đe dọa khác cho tình bạn đang chín mùi giữa Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội là sự can thiệp của Trung Quốc vào công việc tìm kiếm dầu khí ngoài khơi Việt Nam. Hồi mùa xuân năm ngoái, tàu tuần duyên Trung Quốc đã sách nhiễu tàu thăm dò dầu khí làm việc cho PetroVietnam và cho công ty dầu Phi Luật Tân. Tai nạn đã khơi động một làn sóng biểu tình yêu nước ở Việt Nam và đã thúc dục Hà Nội theo đuổi liên hệ chiến lược với những diễn viên khác trong vùng.

Những chuyên gia về Trung Quốc biện luận rằng sự khiêu khích mùa xuân vừa qua có thể là hành động không được phê chuẩn bởi thành phần cố ý bảo vệ sự đòi hỏi mù mờ về chủ quyền vùng biển Đông kéo dài cho đến Singapore. Thật hay giả, ít nhất là có một phe phái đáng kể ở Bắc Kinh không muốn những quốc gia khác hút dầu và khí (vẫn còn chưa khám phá) mà họ xem là của riêng họ.

Các công ty dầu lớn đã được cảnh báo rằng nếu muốn dự phần ở Trung Quốc thì tốt hết nên ra khỏi Việt Nam. Hãng BP của Anh đã bán tài sản ở Việt Nam năm 2010, và đầu năm nay hãng dầu đứng thứ nhì của Mỹ, Conoco-Phillips, đã bán phần trị giá 1 tỷ mỹ kim ở Việt Nam cho một hãng Pháp. Dù vậy, Exxon-Mobil nói rằng họ đang có quyết định khai thác một khám phá mới đây ngoài khơi miền trung Việt Nam.

Hoạt động thăm dò dầu khí gia tăng trong mùa xuân. Nếu có thêm những biến cố như năm ngoái thì có thể áp lực Hoa Thịnh Đốn phải can thiệp. Những chuyện này sẽ khó tránh khỏi tham dự vào nội tình chính trị Hoa Kỳ.

Công việc của những nhà ngoại giao không chỉ tìm hiểu những đối tác ngoại quốc nói gì mà còn là tại sao, để có một cái nhìn rõ ràng về tính khả thi và, trên hết là không đánh giá quá cao vào những gì đang đàm phán khi tường trình cho cấp trên. Miễn là những nhà ngoại giao của họ hai bên giữ đúng điều này, cả Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn rất có thể thấy lợi ích trong việc ngăn chặn lửa cháy bên dưới sự qua lại của họ một thời gian – ít nhất cho tới cuối năm. Cả hai bên đều không nằm trong tư thế để tiến xa hơn nữa. Thử thách hiện thời sẽ là duy trì những gì đã đạt được, đương đầu với những áp lực, và không để mất lòng tin và/hay tố cáo lẫn nhau.

___________

Tác giả: Ông David Brown là một cựviên chức ngoại giao Hoa Kỳ với nhiều kinh nghiệm về Đông Á Châu, đặc biệt là Việt Nam.

Chú thích Ảnh: Hoa Kỳ sẽ không cần lấy lại điều này.

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2012
Bản tiếng Việt © Trần Văn Minh

Posted in: Chính trị