Bắc Kinh, Hà Nội, và Đông Dương – Các bước tiến tới sự đụng độ

Posted on Tháng Tư 3, 2012 bởi

1



Ngô Bắc dịch
Trích từ Gió-O

Lời Người Dịch: “Chiến dịch 1979, ít nhất đối với Quân Đội Giải Phóng của Nhân Dân Trung Quốc, là một sự thất bại.  Trung Quốc đã phóng ra cuộc tấn công của nó trong một nỗ lực để buộc Việt Nam phải rút lui khỏi Căm Bốt.  Trung Quốc đã rút lui khỏi Việt Nam hôm 16 Tháng Ba, 1979, nhưng Việt Nam đã không rời Căm Bốt mãi cho đến năm 1989.” ….

“Cuộc chiến tranh theo học thuyết họ Mao chưa dứt, nhưng phía Trung Quốc đã học được một bài học quan trọng.”

       Trên đây là phần kết luận chắc nịch của Edward C. ODow’d, một tác giả hàng đầu về Chiến Tranh Biên Giới Trung Quốc – Việt Nam Năm 1979, chủ đề của loạt bài nghiên cứu dưới đây về biến cố quan trọng diễn ra 33 năm trước.   Đối chiếu với bài học lịch sử lâu dài của đất nước, rõ ràng vấn đề sinh tử của dân tộc Việt Nam hiện nay là phải tìm mọi cách đê duy trì được sự độc lập và vẹn toàn lãnh thố, đồng thời thoát ra khỏi sự lệ thuộc ngoại giao và quân sự đáng tủi hổ đối với Trung Quốc.

***

Không có nghi ngờ gì, vấn đề nghiêm trọng nhất phân hóa Việt Nam và Trung Quốc chính là cuộc đấu tranh giành quyền khống chế tại Đông Dương. Các Chương hai, ba, và bốn được dành cho việc phân loại các chính sách cạnh tranh nhau mà Bắc Kinh và Hà Nội đã ủng hộ để cố gắng bảo đảm cho một sự hiện diện tại Đông Dương.  Trong Chương này [Chương 2], sự cạnh tranh này sẽ được phân tích từ 1975 cho đến lúc kết thúc cuộc chiến tranh Trung Quốc – Việt Nam năm 1979.  Các vấn đề ở đây thì phức tạp bởi chúng cũng liên quan đến sự cứu xét các tác nhân cấp vùng khác, tức Căm Bốt, Lào, và Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN: Association of Southeast Asian Nations).

Phần đầu tiên sẽ xem xét các căng thẳng khởi thủy giữa Trung Quốc và Việt Nam xuất hiện trong năm 1975.  Phần này sẽ được tiếp nối bởi một cuộc thảo luận về sự bất ổn gia tăng trong phạm vi khu vực Đông Dương sau 1975 và Bắc Kinh cùng Hà Nội đã phản ứng như thế nào đối với các biến cố này.  Phần thứ ba xét đến sự xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt và sự xâm lăng tiếp theo sau của Trung Quốc vào Việt Nam.  Một sự tóm lược và kết luận sẽ theo sau.

TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM 1975: “CÁC THÂN HỮU” ĐÀO BỚI LÊN CÁC SỰ KHÁC BIỆT

Nhiều nhà quan sát bên ngoài quan tâm đến việc xét xem Bắc Kinh đã phản ứng như thế nào đối với sự chiếm đoạt miền Nam Việt Nam của Hà Nội.  Có một sự đồn đãi rộng rãi rằng Trung Quốc muốn có một nước Việt Nam bị phân chia hơn, bởi nó lo sợ loại hiệu ứng mà một Việt Nam thống nhất có thể có trên phần còn lại của Đông Dương.  Khi cuộc chiến thắng của Hà Nội trên miền Nam được loan báo chính thức  Tân Hoa Xã (New China News Agency: NCNA) đã chờ đến bẩy tiếng đồng hồ mới tường trình về biến cố, và ngay lúc đó nó là một sự đáp ứng bị kiềm chế.  Các bản tường thuật bắt đầu được loan truyền tức thời rằng Hà Nội và Bắc Kinh đang trải qua các vấn đề khó khăn khi các nhà ngoại giao Tây Phương đã không nghe thấy các giới thẩm quyền Hà Nội đề cập gì đến Trung Quốc bằng tên gọi trong hai tuần lễ tiếp theo sau cuộc chiến thắng.

       Sau ít ngày, Trung Quốc đưa ra một bản tin thứ nhì về cuộc chiến thắng của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH, tiêng Anh là Democratic Republic of Vietnam: DRV), chúc mừng người dân Việt Nam, và sau đó nhấn mạnh đến nhu cầu về một nước Lào và Căm Bốt độc lập – nói cách khác, một sự cảnh cáo trực tiếp cho Hà Nội không được hành động theo bất kỳ tham vọng nào mà nó có thể có để can thiệp vào các quốc gia láng giềng. 1

       Trung Quốc lo ngại về những gì mà Hà Nội có thể dự trù cho Đông Dương thì có căn cơ rất vững chắc.  Người Việt Nam tự xem mình là viên đá chốt vòm cửa của phong trào cộng sản tại Đông Dương kể từ những ngày ban sơ của Đảng Cộng Sản Đông Dương, khi họ khống chế hàng ngũ đảng viên của đảng.  Trước và sau Thế Chiến II, Việt Nam đã ủng hộ các phong trào nổi dậy tại Lào và Căm Bốt.  Trong Hội Nghị Geneva 1954, Việt Nam đã bị cưỡng ép phải nhượng bộ trước các đòi hỏi của Trung Quốc đòi đình chỉ các phong trào nổi dậy tại các nước làng giềng để đối việc đồng ý về một sự ngưng bắn với Pháp.  Vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, các phần tử tại Lào và Căm Bốt được xem chỉ dính líu bên lề trong cuộc chiến tranh chống lại Hoa Kỳ bởi các xứ sở của họ chứa chấp nhiều con đường tiếp tế và các căn cứ được sử dụng bởi Quân Đội Bắc Việt (QĐBV: North Vietnam Army: NVA).  Chính vì thế Hà Nội đã có một quá trình liên hệ lâu dài với các lân bang Đông Dương của nó.

       Với bối cảnh này, Bắc Kinh đã tin rằng Hà Nội đối diện chính yếu trước hai giải pháp tại Đông Dương:

       1. Từ bỏ bất kỳ tham vọng nào tại Đông Dương và chỉ chuyên lo việc xây dựng xà hội chủ nghĩa trong nước.  Giải pháp này, Bắc Kinh đã tin tưởng, không có mấy xác xuất bởi sự quan tâm liên tục mà Hà Nội đã biểu lộ tại các nước láng giềng của nó, ngay dù có làm cho Bắc Kinh tức giận.

       2. Tiếp tục tìm kiếm ảnh hưởng lớn hơn tại Đông Dương và phát huy sự xây dựng xã hội chủ nghĩa trong nước, trong khi tìm kiếm sự ủng hộ chính trị và kinh tế liên tục từ Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh.  Bất kể sự nguy hiểm của việc gây phương hại nghiêm trọng đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, giải pháp này xem ra có nhiều khả tính hơn đối với Bắc Kinh, khi cứu xét đến các tham vọng trong quá khứ của phía Việt Nam trong khu vực và các sự khác biệt lịch sử đã phân cách Việt Nam và Trung Quốc.  Đó cũng là giải pháp mà Trung Quốc tin rằng nó sẽ bị tổn hại nhiều nhất, không phải chỉ vì điều đó tượng trưng cho một sự giành thắng tổng quát về ảnh hưởng cho Hà Nội trong vùng, mà sẽ nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ Mạc Tư Khoa, nước có thể có lợi từ việc có một đồng minh thân cận ngăn chặn các biên giới phía nam của Trung Quốc.

       Các sự lo sợ của Hà Nội về các tham vọng của Trung Quốc tại Đông Dương cũng có căn cơ rất xác đáng.  Trung Quốc luôn luôn có vẻ cung cấp cho Việt Nam sự ủng hộ trong các cuộc đấu tranh của nó chống lại người Pháp và người Mỹ, nhưng sự ủng hộ đó đã suy yêu trong cả các cuộc đãm phán ở Geneva năm 1954 và tại Paris năm 1973.  Ngoài ra, Bắc Kinh không bao giờ coi trọng các phong trào cộng sản tại Đông Dương, cho đên khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc (People’s Republic of China: PRC) [viết tắt là CHNDTH trong bản dịch này] chính thức được khai sinh năm 1949.  Vào thời điểm đó, Trung Quốc tìm cách kiểm soát khuôn khổ và các phương pháp để điều hành các cuộc cách mạng cá biệt của các nước Đông Dương.  Đối với người Việt Nam, Trung Quốc đã đóng cùng vai trò mà người Trung Quốc từng thủ diễn trong các thế kỷ đã qua, bất kể lời tuyên thệ tự phát biểu về sư hợp tác của Bắc Kinh với Việt Nam, lân bang xã hội chủ nghĩa anh em của nó.

       Tóm lại, Hà Nội đã nhìn Trung Quốc như mối đe dọa chính yếu không chỉ đối với Đông Dương, mà còn chính với Hà Nội, và tin tưởng rằng các mục đích của Bắc Kinh như sau:

       1. Bắc Kinh sẽ cố gắng thiết lập các quan hệ với cả Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời của Việt Nam (Provisional Revolutionary Government: PRG), và tiếp tục các tiếp xúc với chính quyền Hà Nội, nhằm ngăn cản sự thống nhất của Việt Nam. 2

       2. Bắc Kinh sẽ tìm cách mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc vào Lào và Căm Bốt để đối cân với ảnh hưởng của Việt Nam.  Điều này sẽ không chỉ bảo đảm cho các lân bang thân hữu, mà còn ngăn chặn các tham vọng của Việt Nam và giới hạn ảnh hưởng của Sô Viết trong vùng.

       3. Bắc Kinh sẽ tìm phương cách để lôi kéo Việt Nam ra khỏi phe Sô Viết và đứng vào hàng ngũ với Bắc Kinh một cách chặt chẽ hơn trong cuộc tranh chấp Trung Quốc – Sô Viết.  Đây là một mục đích dài hạn, nhưng dù thế có tinh cách quan trọng đối với Bắc Kinh.

       Với các quan điểm của Trung Quốc và Việt Nam xung đột nhau một cách quá rõ rệt về Đông Dương, điều dễ hiểu lý do tại sao Hà Nội và Bắc Kinh đã đối đáp với nhau theo cách mà họ đã làm vào lúc có sự chiến thắng của cộng sản trên Nam Việt Nam hồi Tháng Tư 1975.  Trong phần còn lại của năm 1975 và năm 1976, Hà Nội và Bắc Kinh tỏ ra thận trọng đối với bên kia, nhưng vẫn cương quyết để phe bên kia hay biết các ước muốn của họ.

       Trong Tháng Sáu 1975, CHNDTQ đã phái một chiếc tàu chất đầy các đồ tiếp tế cứu trợ đến Đà Nẵng, Việt Nam.  Chiếc tàu đã không được phép tiến vào hải cảng và vì thế vẫn chờ đợi ngoài khơi để nhận các chỉ thị.  Một ít ngày sau đó một chiếc tàu của Sô Viết tiến gần đến hải cảng và hỏi rằng liệu nó có thể tiến vào và chuyển giao hàng hóa của nó hay không.  Các viên chức Việt Nam đã trả lời bằng cách bảo tàu Trung Quốc tiến vào hải cảng và tàu Sô Viết đi theo sau.  Ngày kế tiếp một loan báo công khai đã được đưa ra bởi Việt Nam cho hay rằng Liên Bang Sô Viết là nước đầu tiên gửi viện trợ đến Việt Nam sau cuộc chiến thắng của Việt Nam.  Dĩ nhiên, biến cố đã chọc giận Trung Quốc. 3

       Các dấu hiệu khác của sự căng thẳng hiện ra trong Tháng Tám khi một phái đoàn kinh tế Việt Nam được tiếp đón một cách lạnh nhạt bởi các viên chức Bắc Kinh.  Các nguồn tin cộng sản Trung Quốctại Hồng Kông đã tin tưởng rằng sự tiếp đón dè dặt là hậu quả của sự vô ơn của Việt Nam đối với viện trợ thời chiến tranh của Trung Quốc, các ràng buộc chặt chẽ hơn giữa Hà Nội và Mạc Tư Khoa, và sự tranh giành ảnh hưởng tại Phnom Penh giữa Hà Nội và Bắc Kinh. 4 Một tài liệu được công bố bởi Bắc Kinh trong năm 1978 đã chiếu rọi thêm ánh sáng vào sự việc.  Chu Ân Lai được nghĩ đã nói với phái đoàn kinh tế Việt Nam rằng Trung Quốc “cần một sự nghỉ ngơi trong việc cung cấp viện trợ hầu khôi phục sức mạnh trong nền kinh tế Trung Quốc. 5  Phái đoàn Việt Nam rời Bắc Kinh và đi thẳng đến Mạc Tư Khoa nơi họ nhận được một sự tiếp đón nồng nhiệt hơn và một gói viện trợ quảng đại.

       Trong năm 1976, các viên chức Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ có nhận được tin tức rằng các chuyến tàu chở đồ viện trợ của Trung Quốc cho Căm Bốt xuyên quá Việt Nam đã bị giữ lại tại các hải cảng Việt Nam bởi các viên chức đòi hỏi rằng một nửa đồ viện trợ phải được bốc dỡ tại Việt Nam.  Trung Quốc tức giận Việt Nam, nhưng vẫn tiến hành và không cho  bốc dỡ đồ viện trợ.  Trung Quốc đã tuyên bố rằng họ lựa chọn không công bố các câu chuyện này cả trên báo chí Hoa ngữ lẫn ngoại quốc hầu ngăn cản một sự căng thẳng hơn nữa trong các quan hệ. 6  Các hành động của Việt Nam đã phản ảnh không chỉ các đòi hỏi viện trợ hơn nữa, mà còn một sự cắt giảm số viện trợ mà Trung Quốc sắp cung cấp cho Căm Bốt.  Các quan hệ giữa CHXHCNVN (SRV: Socialist Republic of Vietnam) và CHNDTH tiếp tục quay theo chiều hướng đi xuống.  Trong Tháng Tư 1976, các sự tường thuật bắt đầu được loan truyền rằng một số vụ giao tranh đã xảy ra dọc biên giới Trung Quốc – Việt Nam.  Các sự tường thuật cho hay rằng CHXHCNVN và CHNDTQ đồng ý tiến tới các cuộc hòa đãm.  Trung Quốc đã muốn các cuộc hòa đàm cũng bao gồm vấn đề Căm Bốt vốn làm phân hóa Việt Nam và Trung Quốc, một điều mà Hà Nội đã bác bỏ thẳng thừng bởi Hà Nội nói các vấn đề tại Căm Bốt sẽ làm vẩn đục vấn đề thực sự chỉ liên can đến Việt Nam và Trung Quốc. 7

       Bất kể các sự tường thuật tổng quát và khác biệt nêu trên, cả hai phía xem ra bất định về tình trạng các quan hệ Trung Quốc – Việt Nam trong năm 1976.  Điều hiển nhiên rằng Hà Nội và Bắc Kinh đang cố gắng để đạt tới các thỏa hiệp về vấn đề này, trong khi không bên nào sẵn lòng biểu lộ công khai sự bất mãn đối với bên kia.  Nhưng việc Hà Nội nghiêng về phía Mạc Tư Khoa đã làm gia tăng các mối nghi ngờ của Trung Quốc về Liên Bang Sô Viết.  Trung Quốc đã nhìn các chuyển động của Sô Viết tiến tới Việt Nam tương tự như những hành động của Sô Viết tại Đông Âu.  Bởi vì Liên Bang Sô Viết là đối thủ chính của Trung Quốc, một liên minh chặt chẽ với một kẻ tranh giành chính yếu với Trung Quốc tại Á Châu là một chỉ dấu cho ảnh hưởng gia tăng của Sô Viết trên toàn cầu và đặc biệt một mưu tính nữa để ngăn chặn Trung Quốc.  Bắc Kinh đã tin rằng một chủ nghĩa bá quyền về địa lý chính trị như thế về phía Liên Bang Sô Viết không thể được cho phép thành công tại Đông Nam Á. 8  

       Nhip bước mau lẹ của các quan hệ gia tăng giữa Hà Nội và Mạc Tư Khoa đã gặp phải các lời nói cứng răn từ Bắc Kinh, mặc dù được nhắm chính yếu đến Mạc Tư Khoa.  Trung Quốc đã tố cáo Sô Viết về sự bành trướng tại Đông Nam Á và ôm ấp các tham vọng chiếm đoạt Thế Giới Thứ Ba.  Mặc dù Mạc Tư Khoa nhận được mũi tấn công của sự chỉ trích, hầu hết các quan sát viên bên ngoài nhìn nhận rằng lời chỉ trích có mang ý nghĩa cho cả Việt Nam lẫn Sô Viết. 9 Lời chỉ trích đã không làm đảo ngược bước tiến vững chắc của sự hợp tác Việt Nam – Sô Viết và thay vào đó bị trả đũa bởi các sự tố cáo của Sô Viết về chủ nghìa bá quyền của Trung Quốc tại vùng Đông Dương. 10    

       Tháng Bẩy 1976, Đại Sứ CHNDTH tại Hà Nội, Sun Hao (Tôn Hạo?) nhìn nhận rằng mối quan hệ giữa CHNDTH và CHXHCHVN không được chặt chẽ như Trung Quốc muốn có.  Ông Sun nói rằng điều này chính yếu là do có sự chặt chẽ rõ ràng giữa Việt Nam và Mạc Tư Khoa, nhưng tin tưởng rằng sự mật thiết đó sẽ chỉ tồn tại ngắn hạn bởi có ước vọng muốn độc lập vươn ra quá độ của Việt Nam.  Ông cùng thừa nhận rằng một số khác biệt lịch sử giữa Trung Quốc và Việt Nam đã lại trồi mặt lên, và rằng đã có sự khác biệt về những gì được xem là một sự cân bằng quân sự có thể chấp nhận được tại Á Châu. 11 Hàm ý trong lập luận này là cuộc tranh cãi kéo dài về số phận của Đông Dương và nước nào sẽ đóng vai trò chế ngự trong tương lai của nó.

       Cho đến cuối năm 1976, Hà Nội và Bắc Kinh vẫn còn xem bên kia sẽ là trở ngại chính cho việc gia tăng quyền lợi của mình tại Đông Dương.  Mặc dù cả hai đã trành giành dữ dội ảnh hưởng tại Đông Dương, ít điều được hay biết rằng sự tranh giành này đã xảy ra như thế nào, ngoài việc xuyên qua các dự án viện trợ và một số vụ yểm trợ cho các phong trào nổi dậỵ, cho thấy rằng cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều đã thực hiện các sự kiềm chế hầu tránh việc tiết lộ công khai các sự khác biệt trong các mục tiêu.  Ngoài ra, ít nước ở Đông Nam Á có vẻ quan tâm quá đáng về những biến cố tại Đông Dương.  Thái Lan là một ngoại lệ trong khía cạnh này, bởi nó giáp ranh với Căm Bốt và Lào, và nghi ngờ các ý định của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam trong vùng trong nhiều thập niên. 12

       Trong Tháng Mười Hai, một biến cố quan trọng diễn ra được xem như chỉ dấu cho một khúc ngoặt nghiêm trọng trong các quan hệ Trung Quốc-Việt Nam.  Tại đại hội Đảng lần thứ tư ở Hà Nội, ủy viên Bộ Chính Trị Hoàng Văn Hoan, một viên chức thân-Bắc Kinh, bị gạt bỏ không còn là một thành viên cao cấp của Bộ chính Trị.  Cũng bị thanh trừng là các đảng viên thế lực khác bị xem thuộc một cánh có cảm tình với các chính sách của Trung Quốc nói chung và đặc biệt chỉ trích vai trò của Mạc Tư Khoa trong chính trị Việt Nam.  Cuộc thanh trừng được xem là một chiến thắng quan trọng cho cánh thân Sô Viết trong đảng và đánh dấu sự chuyển hướng nghiêm trọng nhất ra khỏi Trung Quốc kể từ khi có sự kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam trong năm 1975. 13 Việt Nam còn tách xa Trung Quốc hơn nữa sau cái chết của Chu Ân Lai.  Sự từ trần của Chu Ân Lai để lại một cuộc đấu tranh quyền lực trong nội bộ đảng công sản Trung Quốc.  Trong khi Bắc Kinh tìm cách giải quyết sự tranh chấp nội bộ của nó, Việt Nam đã có thể kiếm được viện trợ từ Mạc Tư Khoa.  Khi nghe được tin tức rằng lời yêu cầu viện trợ của Hà Nội đã được chấp thuận bởi Mạc Tư Khoa, bí thư ĐCSVN Lê Duẩn đã tuyên bố rằng Liên Bang Sô Viết sẽ là “nhà nước xã hội chủ nghĩa hùng mạnh nhất”. 14 Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục chỉ trích “ đế quốc xã hội chủ nghĩa và chính sách bá quyền của Sô Viết” và đã kêu gọi Sô Viết hãy đứng bên ngoài các sự vụ của Lào, Căm Bốt và Việt Nam. 15

       Sự chuyển hướng của Hà Nội nghiêng về Mạc Tư Khoa xảy ra vào lúc mà Trung Quốc và Việt Nam đang hoàn thành nhiều dự án công nghiệp chung, vốn đã khởi sự nhiều năm trước đó.  Mặc dù Bắc Kinh có đưa ra một thông điệp chào mừng về sự hoàn tất của chúng, không có dấu hiệu nào được đưa ra rằng các dự án mới đang trong các giai đoạn hoạch định. 16 Với một chiều hương thân Sô Viết trong Bộ Chính Trị, viện trợ nhiều phần sẽ đến từ Mạc Tư Khoa, và Bắc Kinh bác bỏ bất kỳ sự cứu xét nào cho các dự án tương lai.  Hà Nội vẫn còn nuôi hy vọng rằng tiền bạc sẽ sắp đến từ Hoa Kỳ.

       Khi Việt Nam chính thức tái thống nhất năm 1975, Hà Nội đã khởi sự lượng định các cơ may của nó để lập các quan hệ với Hoa Kỳ.  Bất kể đã đánh nhau trong một cuộc chiến tranh chua chát với người Mỹ, Hà Nội đã khởi sự đàm phán với Hoa Thịnh Đốn.  Điều rõ ràng là Hà Nội cần đến Hoa Kỳ vì nhiều lý do quan trọng:

       1. Việt Nam cần có sự trợ giúp kinh tế.  Nhiều năm chiến tranh và cách biệt đã khiến cho kinh tế Việt Nam suy yếu và rã rời nghiêm trọng.  Với các khả tính của viện trợ, Hà Nội có thể bắt đầu tái xây dựng và cứu vớt nền kinh tế bất định của nó.  Không có sự trợ giúp của Mỹ, Việt Nam sẽ buộc phải tiên sâu vào phe Sô Viết để tìm kiếm sự giúp đỡ, một điều gì đó mà Hà Nội muốn né tránh.

       2. Các quan hệ với Hoa Thịnh Đốn có thể che chở Việt Nam nói chung khỏi việc phải đu dây quá dè dặt giữa Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh.  Mặc dù rõ ràng rằng Hà Nội đi sát với Mạc Tư Khoa trong năm 1975 hơn là với Bắc Kinh, Hà Nội ưa thích được độc lập càng nhiều càng tốt.  Các quan hệ và sự trợ giúp từ Hoa Kỳ có thể giúp cho sự tiến bước của Việt Nam đến độc lập.

       3. Với các quan hệ bình thường giữa Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn, các nước khác nhiều phần sè sẵn lòng hơn để trợ giúp Việt Nam.  Một trong các lợi ích của việc bình thường hóa các quan hệ với Hoa Thịnh Đốn rằng đã có một khả tính lớn hơn là các quốc gia đi sự hướng dẫn của Hoa Thịnh Đốn sẽ cung cấp sự trợ giúp tài chính cho nền kinh tế xiêu vẹo.

       4. Sau cùng, sự nhìn nhận của Hoa Kỳ có thể cung cấp cho Việt Nam một sự chế xung thứ yếu chống lại Trung Quốc, từ đó kiềm giữ họ không cho lại gần và cho phép Hà Nội nhiều tự do hơn để theo đuổi kế hoạch hành động của chính nó tại Đông Dương.  Sự nhìn nhận của Hoa Kỳ sẽ thừa nhận thực tế của một Đông Dương chịu ảnh hưởng của Hà Nội và giúp cho việc ngăn chặn sự can thiệp của Trung Quốc trong vùng.

       Bắc Kinh, mặt khác, đã tìm kiếm các mục đích khác từ việc bình thường hóa các quan hệ với Hoa Kỳ.  Một số trong các mục đích này đương nhiên xung đột với các quyền lợi của Hà Nội:

       1. Một mối quan hệ tốt đẹp hơn với Hoa Thịnh Đốn sẽ cung cấp một lợi điểm chống lại Sô Viết.  Bất kỳ sự giành đoạt nào của ảnh hưởng của Hoa Kỳ sè được xem là một sự tổn thất rõ rệt cho sự hiện diện gia tăng của Sô Viết tại Á Châu, và đặc biệt tại Đông Dương.

       2. Một sự cải thiện trong các quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc có thể làm nản lòng Việt Nam trong việc theo đuổi bá quyền tại Đông Dương.  Bước tiến sẽ triệt hạ bất kỳ ý định nào mà Hà Nội đã có tại Đông Dương, bởi Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ liên minh chống lại sự bành trướng của Việt Nam.

       3. Trung Quốc có thể hưởng lợi từ các cơ hội mậu dịch sè đi theo sau việc bình thường hóa các quan hệ với Hoa Kỳ.  Việc này chắc chắn sẽ khai mở tiềm năng mậu dịch của Trung Quốc với các nước khác di theo sự hướng dẫn của Hoa Thịnh Đốn.

       4. Sau cùng, các quan hệ được cải thiện với Hoa Thịnh Đốn sè nâng cao tầm quan trọng của Trung Quốc như một quyền lực thế giới.  Các ràng buộc với Hoa Kỳ sè mang lại cho Bắc Kinh một tiếng nói tự do hơn để phát biểu các ý kiến về các vấn đề khác ảnh hưởng trực tiếp đên Trung Quốc và các vấn đề chính trị thế giới nói chung.

Tóm Tắt

       Trong năm 1975 và 1976, các sự khác biệt đã xuất hiện một cách rõ ràng giữa Bắc Kinh và Hà Nội.  Không còn gì để ngờ rằng các sự khác biệt này đã có các hàm ý quan trọng trên mối quan hệ trước khi có cuộc chiến thắng của Bắc Việt trên Miền Nam năm 1975, nhưng cuộc chiến thắng của Hà Nội đã đặt ra sự nhấn mạnh mới trên các lãnh vực tranh chấp này.  Mặc dù cả Trung Quốc lẫn Việt Nam vẫn còn thận trọng trong sự đối đáp với bên kia, điều hiển nhiên rằng các chính sách cạnh tranh tại Đông Nam Á đã đụng độ nhau, xô đẩy hai nước cách xa nhau hơn sự mật thiết giữa chúng kể từ khi có nỗ lực giành độc lập của Việt Nam hồi đầu thế kỷ này [thứ 20].  Sự phân hóa này đã bắt đầu trồi mặt lên trong năm 1977.

ĐÔNG DƯƠNG TRONG TÌNH TRẠNG XÁO TRỘN

       Trong một thời kỳ tiếp theo sau cuộc thanh trừng “phe thân Trung Quôc’ trong Đảng Cộng Sản Việt Nam, cả hai phía Trung Quốc lẫn Việt Nam vần tiếp tục chiều hướng thận trọng của chúng với nước kia.  Mặc dù các lời loan báo công khai chứa đựng các cử chỉ bề ngoài thông thường của họ về thiện chí, tán tụng “sự đoàn kết anh em xã hội chủ nghìa của các nước trong đó Việt Nam và Trung Quốc là một thành viên”, các tiếp xúc chính thức giữa các nhà lãnh đạo lạnh nhạt hơn nhiều.

       Trong Tháng Tư 1977, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng của CHXHCNVN đến thăm Bắc Kinh để thỉnh cầu viện trợ từ giới lãnh đạo Trung Quốc.  Phiên họp này được tổ chức với Hoa Quốc Phong (Hua Guofeng, Trần sĩ Liên [?] (Chen Xilian), và Lý Tiên Niệm (Li Xiannian).  Một văn thư ghi nhớ cuộc họp được thảo bởi Li Tiannian và gửi đến Phạm Văn Đồng hôm 10 Tháng Sáu, 1977. 17 Văn thư vạch cho thấy rằng các cuộc nói chuyện thì căng thẳng và nóng bỏng.  Hai mối quan tâm chính yêu của Trung Quốc được đề cập một cách cụ thể trong văn thư được tóm tắt như sau:

       1. Trung Quốc lấy làm bực tức về sự sáp gần lại nhau giữa Việt Nam và Sô Viết.  Đặc biệt, Bắc Kinh bày tỏ sự bất mãn sâu xa trước sự thừa nhận của Việt Nam về việc hợp tác với Sô Viết nhằm giảm bớt ảnh hưởng cấp vùng của Trung Quốc tại Đông Nam Á.

       2. Bắc Kinh cáo giác Việt Nam đang sử dụng các vấn đề lịch sử làm phân cách Việt Nam và Trung Quốc để khích động một chiến dịch chống Trung Quốc mới.  Bắc Kinh tuyên bố rằng sự xâm lược trong quá khứ về phía nhiều triều đại khác nhau của Trung Quốc là các hành vi của các nhà lãnh đạo phong kiến và không phản ảnh các ước muốn của Đảng Cộng Sản Trung Quốc.  Chính vì thế, sự tái sinh của các sự thù hận giữa các chính phủ của Việt Nam và Trung Quốc là kết quả của chiến dịch của Việt Nam và không có dính dáng gì đến Đảng Cộng Sản Trung Quốc.

       Văn thư đã không đề cập một cách công khai các sự khác biệt đã làm phân cách Việt Nam và Trung Quốc về Đông Dương.  Điều này có thể xảy ra là vì tình hình chính trị tại Căm Bốt vẫn chưa được củng cố.  Đại cương, Trung Quốc và Việt Nam hiểu rằng họ đang bất hòa về vấn đề này, nhưng cố gắng giữ sự phân hóa này đừng dẫn dắt hai nước tiến tới tình trạng bạo động công khai.  Điều hữu ích ở đây để duyệt xét lại tình hình của các nước khác nhau tại Đông Dương hồi giữa năm 1977 hầu xem đâu là chỗ mà Trung Quốc và Việt Nam khác biệt trong khảo hướng của họ đối với vùng đất này.

Căm Bốt        

       Căm Bốt đã từng bị xâm lăng nhiều lần bởi Việt Nam và Thái Lan.  Sự bất mãn đối với người Việt Nam (và Thái) chính vì thế bắt rễ sâu xa trong hầu hết người Căm Bốt.  Trong thế kỷ này, phía Việt Nam đã nhận được nguyên khối nghi ngờ của Căm Bốt bởi điều mà Căm Bốt nhìn như là các nỗ lực liên tục của Việt Nam nhằm không chế Căm Bốt qua việc đóng vai trò lãnh đạo trong các phong trào cách mạng của Căm Bốt, và việc chiếm cứ đất đai dọc biên giới Việt Nam mà người Căm Bốt xem đúng ra là của họ.

       Ảnh hưởng của Việt Nam tại Căm Bốt cũng được cảm thấy ở hạ tầng cơ sở của xã hội.  Trong năm 1952, điều được ước lượng rằng 75% dân Khmer mắc nợ đối với người cho vay tiền, phần lớn trong đó là các địa chủ Việt Nam (một số người Trung Quốc cũng có dính líu). 18 Sự kiện này biến người Việt Nam thành các mục tiêu được ưa thích cho phe dân tộc chủ nghĩa Căm Bốt.  Khmer Đỏ, một cánh cực đoan của Đảng Cộng Sản Căm Bốt (ĐCSCB, tiêng Anh là: KCP: Kampuchea Communist Party), đại diện hầu hết dân chúng nông thôn, bởi nó nhất quyết chống lại Việt Nam, chống Tây Phương, và chủ trương tự túc, thân Căm Bốt mộr cách cực đoan.

       Khmer Đỏ tương đối vô năng lực cho tới khi Hoa Kỳ bắt đầu các phi vụ thả bom tại Căm Bốt trong năm 1969 để trả đũa việc ĐCSCB ủng hộ nỗ lực chiến tranh của Hà Nội.  Các vụ bỏ bom đưa đến việc ủng hộ của dân chúng dành cho Khmer Đỏ, các kẻ đã nhìn sự hợp tác của Phnom Penh với Hoa Thịnh Đốn như là một sự từ bỏ nền độc lập của Căm Bốt, và nhìn mối quan hệ của Việt Nam với ĐCSCB như là một phiên bản khác của các mưu toan của Việt Nam nhằm đặt dân Khmer dưới sự thống trị của Việt Nam. 19

       Cuối năm 1975 tình hình chính trị tại Căm Bốt bắt đầu thay đổi một cách đáng kể.  Hoàng Thân Norodom Sihanouk mất hết quyền hành và Đảng Cộng Sản Căm Bốt giành đoạt sự kiểm soát hoàn toàn các sự vụ tại Phnom Penh.  Bí thư của ĐCSCB là Pol Pot (trước đây được biết là Saloth Sar) được nhìn nhận là quyền lực thực sự đằng sau Khmer Đỏ.  Hai phụ tá của ông, Ieng Sary, một anh em đồng hao của Pol Pot, và Son Sen, được xem là các phụ tá thân cận của Pol Pot và đã chia sẻ cảm nhận của Pol Pot chống lại Việt Nam và nghiêng về phía thân Trung Quốc.  Nhân vật thứ tư trong giới lãnh đạo đảng là Khieu Samphan, được xem là chỉ có tầm quan trọng biên tế và tương đối không có mấy quyền lực so với ba lãnh tụ kia. 20

       Bắc Kinh đã đánh bóng Pol Pot và các kẻ cực đoan trong phe Khmer Đỏ của Căm Bốt bởi vì quan điểm chống Sô Viết và sự thù ghét khẳng quyết đối với Việt Nam của họ.  Hà Nội khẳng định chống lại Khmer Đỏ, nhưng không chống ĐCSCB.  Điều được cảm nhận rằng có các phần tử hiện diện trong ĐCSCB tán thành các sự ràng buộc và hợp tác với Việt Nam  và do đó nhiều giải pháp khác nhau đã được thử nghiệm để di chuyển quả lắc chính trị tại Phnom Penh nghiêng về phía các phần tử thân Việt Nam hơn. 

Lào

       Giống như Việt Nam, Lào đã có gắng thực hiện một sự cân bằng tế nhị giữa Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh.  Tuy nhiên, không giống như Việt Nam, hành vi cân bằng này cũng bao gồm việc tách xa Lào ra khỏi Hà Nội càng nhiều càng tốt [sic]. 21 Bộ đội của Hà Nội đã có mặt tại thủ đô Lào, Vientiane, từ 1961. 22 Khác với Căm Bốt, Lào cùng xếp hàng với Hà Nội trong thập niên 1960, tiếp nhận sự huấn luyện và ủng hộ tài chính từ Việt Nam và nói chung cố gắng tự tách xa khỏi Trung Quốc là nước đã duy trì các quan hệ triều cống của Lào trong nhiều trăm năm.

       Khi người Việt Nam thành công trong nỗ lực tái thống nhất của họ trong năm 1976, Vạn Tượng đã chỉ trích Bắc Kinh về việc sử dụng áp lực không thích đáng trên Hà Nội đòi phải tuân hành theo các mong muốn của Bắc Kinh.  Mặc dù phần lớn lời hùng biện nhằm chứng tỏ lòng trung thành của nó với Hà Nội, các lời tuyên bố dù thế được đưa ra một cách miễn cưỡng bởi chúng tượng trưng cho sự hủy bỏ tình trạng trung lập của Lào và buộc Vạn Tượng tiến sâu vào sợi dây thong lọng chính trị của Việt Nam.  Hậu quả, các toán công binh của CHNDTQ trú đóng tại Lào được rút về. 23

       Trong khi Lào tiếp tục giạt xa hơn nữa khỏi Bắc Kinh, Vạn Tượng đã di chuyển gần hơn một cách rõ rệt đến Hà Nội và Mạc tư Khoa.  Lào có yêu cầu xin viện trợ từ Bắc Kinh vào đầu năm 1977, nhưng lời thỉnh cầu bị bác bỏ bởi Hua Guofeng vì lý do rằng Lào quá gần cận với Liên Bang Sô Viết và Việt Nam. 24 Trong Tháng Bẩy năm đó, CHXHCNVN và Lào đã ký kết Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác của ho, hứa hẹn thực hiện một sự cộng tác chặt chẽ nhằm tăng cường khả năng quốc phòng, bảo tồn độc lập, chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ, và bảo vệ nỗ lực hòa bình của nhân dân chống lại mọi ý đồ và hành vi phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng phản động ngoại lai. 25

       Trung Quốc hiểu rằng điều khoản nêu trên nhằm hoàn thành tình hữu nghị giữa Lào và Việt Nam với giá của các quyền lợi của Trung Quốc.  Chính vì thế, Lào bị xem bởi Bắc Kinh là đã nằm một cách vững chắc trong khu vực chiến lược của Hà Nội – một yếu tố đã khiến cho Căm Bốt thành bãi chiến cho Trung Quốc để ngăn chặn sự thành công của Việt Nam tại Đông Dương.

Thái Lan

       Thái Lan đã cố gắng giữ thái độ trung lập trên vấn đề chừng nào nó có thể làm được.  Các vấn đề biên giới với Khmer Đỏ đẩy nó đến gần cuộc chiến tranh toàn diện với Căm Bốt trong nhiều dịp hồi giữa thập niên 1970.  Bangkok muốn Phnom Penh vẫn là phi cộng sản, nhưng khi điều này không đạt được, Thái hy vọng rằng chính phủ cầm quyền sẽ đáp ứng với điều mà Bangkok nhận thức như là một mối đe dọa của Việt Nam trên toàn thể Đông Dương.  Mặc dù chế độ của Pol Pot chia sẻ sự nghi ngờ của Bangkok đối với Việt Nam, Thái Lan cũng không khá hơn bao nhiêu trong ý nghĩ của Pol Pot và các vấn đề biên giới lớn dần giữa Khmer Đỏ và Thái Lan.

       Trong năm 1976 Bắc Kinh và Thái Lan đã bình thường hóa các quan hệ, một chuyển động mà nhiều nhà quan sát bên ngoài tin rằng đã diễn ra chính yếu từ sự nghi ngờ chung đối với Hà Nội, hơn là vì bất kỳ lý do nào khác. 26  Khi sự căng thẳng tăng trưởng trong vùng vẫn kéo dài, Bangkok đã đồng ý bình thường hóa các quan hệ với Hà Nội trong năm 1977 với hy vọng rằng Hà Nội sẽ cứu xét đến các quan hệ mới được rèn luyện với Thái Lan trước khi thử nghiệm bất kỳ mưu toan liều lĩnh nào để nắm quyền kiểm soát Căm Bốt.     

TỪ CHIẾN TRANH BẰNG LỜI ĐẾN SỰ THÙ NGHỊCH CÔNG KHAI

       Trên bối cảnh chính trị này, Bắc Kinh đã tìm cách củng cố các ràng buộc của nó với chế độ Pol Pot.  Pol Pot đã tham dự các buổi lễ ngày 1 Tháng Mười tại Bắc Kinh và đã được đón tiếp nồng hậu bởi giới chức thẩm quyền Trung Quốc.  Kết quả của sự tiếp xúc này đã là một thông điệp trực tiếp cho Việt Nam về lập trường của Trung Quốc trong cuộc bất đồng biên giới làm phân cách Việt Nam và Căm Bốt, và quan trọng hơn, kết buộc Trung Quốc tìm kiếm các cách thức trực tiếp để đối phó với thử thách của Việt Nam tại Đông dương. 27

       Mối quan hệ căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam ngày càng trở nên hiển hiện đối với các quan sát viên bên ngoài.  Khi viện trợ thực phẩm cho Việt Nam đã hoàn toàn bị đình chỉ vào cuối năm 1977, Lê Duẩn đã bình luận với các thông tín viên về sự sụt giảm mạnh mẽ trong sự ủng hộ từ Trung Quốc, cho thấy rằng các quyền lợi của Trung Quốc và Việt Nam khác nhau, đã hạn chế sự hợp tác trên các vấn đề chẳng hạn như viện trợ:

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỳ của chúng tôi, các nước anh em đã giúp đỡ chúng tôi bằng việc cung cấp cho chúng tôi các vũ khí và thực phẩm.  Qua việc làm như thế, họ đã phát huy các quyền lợi, bảo đảm sự sống còn của xã hội chủ nghĩa, và chu toàn các bổn phận quốc tế.  Nhưng trong thời kỳ xây dựng, viện trợ sẽ là sự hợp tác trên căn bản quyền lợi hỗ tương. 28

       Việt Nam đã công khai ca ngợi Liên Bang Sô Viết về việc là nước cung cấp chính yếu viện trợ trong quá khứ cho Việt Nam, nhưng không nhắc tới các sự đóng góp của Trung Quốc. 29 Mặc dù viện trợ của Trung Quốc ít hơn khá nhiều so với viện trợ của Liên Bang Sô Viết, Trung Quốc vẫn cung cấp viện trợ cho Việt Nam nhiều hơn bất kỳ nước nào khác mà Bắc Kinh đã hứa hẹn ủng hộ.  Vì lý do này, sự loại bỏ không đề cập của Hà Nội đến viện trợ của Trung Quốc đã có một ảnh hưởng giá lạnh trên các quan hệ, bởi Trung Quốc đã phàn nàn rằng Việt Nam thì vô cảm và bội ơn đối với Trung Quốc về sự trợ giúp đã được cung cấp cho Việt Nam. 30

       Trong Tháng Mười Một 1977, một phái đoàn Việt Nam đã đến thăm viếng Bắc Kinh, có lẽ thực hiện nỗ lực sau cùng để bày tỏ thiện chí giữa Trung Quốc và Việt Nam.  Trong bài diễn văn tại một bữa tiệc được tổ chức khoản đãi phái đoàn, Hoa Quốc Phong tuyên bố rằng “Trung Quốc sẽ “tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa khác … và liên minh với mọi nước bị đau khổ bởi chủ nghĩa đế quốc, và các cuộc xâm lược đế quốc chủ nghĩa xã hội, sự khuynh đảo, can thiệp, kiểm soát hay dọa nạt ….” 31 Không có gì phải nghi ngờ rằng mục tiêu chính yếu của các sự lưu ý của họ Hoa nhắm vào Liên Bang Sô Viết.  Nhưng sự nương tụa của Việt Nam vào Sô Viết để có viện trợ tài chính và sự ủng hộ chính trị thì lớn lao vào thời điểm đó, làm cho lời nhắn nhủ được nhắm tương đương vào các nỗ lực của Việt Nam tại Căm Bốt.  Bài diễn văn của Lê Duẩn tại bữa tiệc được dùng để biểu lộ các sự chú ý của Việt Nam trong sự can dự liên tục tại Đông Dương:

Nhân dân Việt Nam không có ước vọng nào tha thiết hơn là được sống trong hòa bình, được phát huy và tăng cường các quan hệ hữu nghị với mọi nước, và để đóng góp vào việc bảo vệ nền hòa bình tại Đông Nam Á và thế giới, cùng lúc, chúng tôi cương quyết không cho phép bất kỳ chủ nghĩa đế quốc nào và bất kỳ lực lượng phản động nào xâm phạm sự độc lập và tự do của chúng tôi. 32

       Trong Tháng Mười Hai, Bắc Kinh ấn hành các bài tường thuật về các nỗ lực của Khmer Đỏ để tự phòng vệ chống lại sự xâm lược ngoại lai đến từ Việt Nam.  Đó là một trong những nỗ lực công khai đầu tiên của Trung Quốc để hướng sự quy trách về cuộc xung đột biên giới Căm Bốt – Việt Nam cho phía Hà Nội. 33 Cùng lúc, các cơ sở báo chí ngoại quốc tường thuật rằng Bắc Kinh đang gửi các vũ khí cho Phnom Penh để kháng cự các lực lượng Việt Nam tại biên giới và để ngăn chặn các ý định xâm lăng của Việt Nam. 34 Trong vòng ít ngày, nhiều cố vấn Trung Quốc đang làm việc với các lực lượng Căm Bốt bị bắt giữ bởi phía Việt Nam và Thủ Tướng (Phạm Văn) Đồng nói bóng gió với các thành viên của báo chí rằng sức mạnh của Căm Bốt là một kết quả của sự thông đồng Trung Quốc – Hoa Kỳ chống lại Việt Nam. 35 Một số viên chức Trung quốc nêu ý kiến với các thành viên của đoàn báo chí hồi cuối Tháng Một 1978 rằng trách nhiệm về cuộc chiến tranh tại Căm Bốt rõ ràng phải được nhắm về phía Việt Nam. 36

       Trong khi các tháng mùa Đông qua đi, chiến sự giữa Việt Nam và Căm Bốt trở nên mãnh liệt hơn.  (Mùa đông là mùa khô tại Đông Dương, chính vì thế các hoạt động quân sự dễ được thực hiện hơn trong mùa ướt (mưa)).  Cả Việt Nam lẫn Căm Bốt đều có thực hiện các cuộc đột nhập vào lành thổ của phía bên kia.  Bất kể quân lực tương đối yếu kém hơn của Căm Bốt, Phnom Penh tin tưởng rằng cuộc xâm lăng chống lại CHXHCNVN có thể làm nản chí CHXHCNVN khỏi việc mưu toan không chế Căm Bốt. 37 Chính vì thế bộ đội  Khmer Đỏ (K. R.: Khmer Đỏ) đã phóng ra một cuộc đột kích vào lãnh thổ Việt Nam bất kể các nguồn tài nguyên hạn chế — một chuyển động làm ngạc nhiên nhiều nhà lãnh đạo trong vùng.

        Hà Nội đã tin tưởng Căm Bốt là chìa khóa trong cán cân quyền lực tại Đông Dương.  Chính vì thế chiến thắng tại Căm Bốt sẽ tối đa hóa sự độc lập của Việt Nam ra khỏi Trung quốc (và có thể cả Mạc Tư Khoa), và có thể làm gia tăng một cách lớn lao ảnh hưởng của Việt Nam trong toàn vùng Đông Nam Á. 38

       Trong khi cuộc xung đột giữa Căm Bốt và Việt Nam tiếp diễn, sự căng thẳng gia tăng giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng vươn tới các tầm mức khủng hoảng.  Các chính sách nhằm chống lại các cư dân Trung Quốc sinh sống tại Việt Nam được thi hành bởi Hà Nội.  Hàng nghìn người thuộc chủng tộc Trung Quốc bắt đầu chạy trốn khỏi Việt Nam sang Trung Quốc và các nước Á châu khác khi các tin đồn về một cuộc chiến tranh tất yếu giữa Trung Quốc – Việt Nam được loan truyền mau lẹ.  Các vấn đề lành thổ và biên giới cũ đã phân cách Trung Quốc và Việt Nam đã trở thành tiêu điểm của các sự đe dọa và phản đe dọa giữa Hà Nội và Bắc Kinh.  Trung Quốc cắt đứt các chương trình viện trợ còn lại và di chuyển tất cả các cố vấn phục vụ tại Việt Nam.  Bắc Kinh cũng đóng cửa các tòa lãnh sự của Việt Nam tại Côn Minh, Quảng Châu, và Nam Ninh.  Trận chiến ngoại giao đã đẩy Hà Nội bước sâu hơn vào vòng ảnh hưởng của Sô Viết.

       Trong khi trân chiến bằng lời nói tiếp tục giữa Trung Quốc và Việt Nam, tiêu điểm bắt đầu chuyển đến việc phơi bày các ý đồ của bên kia tại Đông Dương.  Hà Nội đã tố cáo Bắc Kinh về việc cung cấp “sự ủng hộ mọi mặt cho các nhà cầm quyền Kampuchea để tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược  thực hiện vô số tội ác man rợ chống lại nhân dân Việt Nạm  Việt Nam còn tố cáo Trung Quốc về việc sử dụng các vấn đề khác để che dấu ý định thực sự của Trung Quốc nhằm “buộc Việt nam phải từ bỏ đường lối đứng đắn của mình về độc lập, chủ quyền và sự liên đới quốc tế”. 39 Một tài liệu bí mật được ấn hành bởi bộ ngoại giao CHXHCNVN trong Tháng Sáu 1978, đã trình bày chi tiết điều Hà Nội nhìn như là chiến lược của Trung Quốc tại Đông Dương.  Các nhận định chính yếu của Việt Nam như sau:

       1. Trung Quốc về mặt lịch sử đã cố gắng làm suy yêu  Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.  Điều này được chứng tỏ từ các nỗ lực của nó để phân chia Việt Nam taị Hội Nghị Geneva 1954 và gây chậm trễ cho việc tái thống nhất trong thập niên 1970.

       2. Trung Quốc đã cố gắng hạn chế ảnh hưởng của Việt Nam tại Lào và Căm Bốt bằng việc ủng hộ các chế độ đã chống đối Việt Nam và cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam.

       3. Các giới chức thẩm quyền Trung Quốc mong muốn lật đổ chính phủ hiện thời của Việt Nam hầu đặt Việt Nam dưới sự kiểm soát của Trung Quốc.

       4. Trung Quốc muốn kiểm soát số phận của Đông Nam Á nói chung, và nhìn Việt Nam và Liên Bang Sô Viết như một mối đe dọa cho các ý đồ này. 40

       Các nhận thức của Trung Quốc về Việt Nam phản chiếu quan điểm của Hà Nội về Trung Quốc trong nhiều khía cạnh.  Nói chuyện với một phái đoàn Viện Quý Tộc Anh Quốc, Lý Tiên Niệm nói rằng lý do chính yếu khiến Việt Nam quay lại chống Trung Quốc là bởi vì Việt Nam đã muốn lập ra một liên bang Đông Dương bằng cách biến Lào và Căm Bốt thành các thuộc địa.  Họ Lý tuyên bố rằng CHNDTQ hay biết về ý đồ này từ lâu và đã cho Hà Nội hay biết sự chống đối của Trung Quốc đối với chính sách này, mặc dù Trung Quốc đã không mang các sự tố cáo này ra trước công luận.

       Vào giữa mùa hè, Việt Nam được thu nhận vào tổ chức kinh tế CMEA hay COMECON (Tổ Chức Tương Trợ Kinh Tế của các nước cộng sản Đông Âu dưới sự lãnh đạo của Liên Bang Sô Viết khi đó, chú của người dịch] đặt tại Mạc Tư Khoa.  Sự thu nhận cho phép Việt Nam có được sự tiếp cận lớn lao hơn về viện trợ và giúp đỡ kỹ thuật và đã lấp được các chỗ trống để lại bởi các kỳ thuật gia Trung Quốc bị triệu hôi bởi Bắc Kinh khi các ràng buộc Trung Quốc – Việt Nam trở nên tồi tệ hơn. 42 Sự kiện cũng đã đánh dấu một sự gia tăng trong sự lệ thuộc của Việt Nam vào Liên Bang Sô Viết.  Với tư cách một hội viên của CMEA, Việt Nam có nghĩa vụ phải dành ưu tiên cho Mạc Tư Khoa trong các sự giao dịch của nó với các quốc gia xã hội chủ nghìa khác.

       Các sự căng thẳng vào cuối mùa hè có vẻ được giảm thiểu phần nào.  Phần lớn các quan sát viên xem tình hình Căm Bốt là sẽ dậm chân tại chỗ, với Việt Nam và Trung Quốc tham gia vào một cuộc chiến tranh ủy nhiệm (proxy war). 43 Cùng với viện trợ kinh tế tổng quát được cung cấp bởi khối CEMA là các vũ khí đến từ Liên Bang Sô Viết.  Các chuyến tàu chở vù khí Sô Viết sang Việt Nam nhiều hơn nhiều, so với số lượng cần thiết để duy trì các nỗ lực của Việt Nam tại Căm Bốt.  Các giới chức thẩm quyền Trung quốc tin tưởng rằng Liên Bang Sô Viết đang trang bị và khuyến khích các viên chức Việt Nam lôi kéo Trung Quốc vào một cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam. 44

       Trong khi sự chú ý đến các vấn đề dân tỵ nạn và các sự việc ở biên giới có vẻ giảm bớt trong báo chí Trung Quốc, nhiều sự chú ý hơn đã được dành cho các ý định của Hà Nội và Mạc Tư Khoa tại Căm Bốt.  Tờ Renmin Ribao (People’s Daily: Nhân Dân Nhật Báo) đã đăng tải một bài báo gọi Việt Nam là “một cô bồ nhí (junior partner) của Liên Bang Sô Viết” nhận được “sự xúi dục và ủng hộ từ Điện Cẩm Linh trong bất kỳ điều gì nó làm hay nói”.  Đề cập tới Sô Viết như là “các kẻ đế quốc xã hội chủ nghiã (social-imperialists)”, bài báo viết tiếp:

Đế quốc xã hội chủ nghĩa là một ông chủ trong quá khứ trong việc dở trò ảo thuật một “cuộc nổi dậy của quần chúng làm duyên cớ cho việc xâm lăng và khuynh đảo một quốc gia có chủ quyền.  Các giới thẩm quyền Việt Nam rất thành thạo trong trò lừa gạt này và đã từng áp dụng nó ngay từ đầu …. Mạc Tư Khoa và Hà Nội đang có khuynh hướng bóp cổ nước Kampuchea mới sơ sinh từ trong chiếc nôi của nó … cả Hà Nội lẫn Mạc Tư Khoa đều cương quyết phá hủy Kampuchea. 45

       Nhưng sự ký kết bản Hiệp Ước Hữu nghị và Hợp Tác giữa Liên Bang Sô Viết và Việt Nam hồi đầu Tháng Mười Một một lần nữa khơi lên các nỗi lo ngại trong vùng.  Trung Quốc đã nhìn Điều Sáu của bản hiệp ước như mưu toan của Việt Nam và Sô Viết để đe dọa Trung Quốc nhằm giúp cho các mục đích của hai bên kết ước tại Đông Dương sè không bị ngăn trở bởi Trung Quốc:

Trong trường một bên bị tấn công hay bị đe dọa tấn công, hai bên kết ước phải tức thời tham khảo với nhau nhằm tìm cách loại trừ sự đe dọa đó, và sè thực hiện mọi biện pháp thích đáng và hữu hiệu để bảo toàn hòa bình và an ninh của hai nước. 46

       Phó Thủ Tướng Đặng Tiểu Bình vạch ra tại một cuộc họp báo tại Bangkok rằng bản hiệp ước là một thành tố trong chiến lược toàn cầu của Liên Bang Sô Viết và “Cuba của Á Châu” (ám chỉ Việt Nam), và rằng bản hiệp ước có một “bản chất quân sự”.  Họ Đặng lập luận rằng bản hiệp ước sẽ giúp cho Việt Nam gia tăng các hành vi bá quyền chủ nghĩa của nó như một “Cuba ở phương Đông”:

Mọi người dều biết Cuba như thế nào rồi.  Chúng ta không thể làm gì hơn là cảnh giác canh chừng Cuba của phương Đông.  Về câu trả lời cho vấn đề này, nó tùy thuộc vào việc Việt nam sè tiến xa đến đâu.  Trước tiên, đến mức độ nào mà nó sè thực hiện trong cuộc xâm lược của nó chống lại Kampuchea.  Chúng tôi sè quyết định về phương cách đối phó với Việt Nam tùy thuộc vào khoảng cách xa gần mà nó sè tiên tới với chính sách bá quyền chủ nghìa của nó. 47

       Bất kể có sự ký kết bản hiệp ước, Việt Nam và Sô Viết đã không gần gủi nhau như nhiều người có thể đã tin tưởng.  Các viên chức Việt Nam thì cởi mở trong sự lượng định của họ về Liên Bang Sô Viết.  Một viên chức có nói với một nhà ngoại giao Mỹ rằng CHXHCNVN đã sống sót qua thời chế độ thực dân của Pháp và chủ nghĩa đế quốc Mỹ, và họ cũng sẽ “sống sót qua tình hữu nghị của Sô Viết”. 48 Sô Viết hay biết rất rõ về sự bất mãn của Việt Nam đối với họ.  Một viên chức Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, trong khi tóm lược một cuộc đàm thoại với một nhà ngoại giao Sô Viết, tường thuật rằng Sô Viết sẽ thất vọng với Việt Nam bởi vì họ chỉ có sự quen biết “mười phăn trăm” với những gì mà giới lãnh đạo Việt Nam đang suy nghĩ. 49

       Vào ngày 3 Tháng Mười Hai, 1978, Mặt Trận Thống Nhất Quốc Gia Kampuchea Cứu Nguy Dân Tộc (MTTNQGKCNDT, tiêng Anh là Kampuchean National United Front for National Salvation: KNUFNS), dưới quyền của Heng Samrin, đã được tổ chức.  Mục đích của MTTNQGKCNDT là lật đổ Pol Pot và thiết lập một chế độ xã hội chủ nghĩa mới.  Heng Samrin là người Căm Bốt và một cựu thành viên của ủy ban chấp hành của ĐCSCB.  Ông đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống lại Pol Pot trong Tháng Năm 1978.  Việt Nam có ý định sử dụng Heng Samrin để chính thống hóa các chính sách của họ tại Căm Bôt.  Điều được nghĩ là nếu họ ra sức ủng hộ cho Samrin, Hà Nội khi đó có thể điều khiển cuộc xâm lăng Căm Bốt, đánh gục ý chí của phe Khmer Đỏ, và thiết lập một chế độ thân Việt Nam.

       Trung Quốc đã tố cáo Việt Nam về việc thành lập ra MTTNQGKCNDT để yểm trợ cho cuộc tấn công quân sự của Việt Nam chống lại Căm Bốt hầu “thực hiện giấc mơ ấp ủ từ lâu của họ về quyền bá chủ trong vùng”. 50 Các thành viên trong đội ngũ ngoại giao của Trung Quốc đã bắt đầu nêu ý kiến rằng Trung Quốc có thể phải đánh Việt Nam bởi có các sự khiêu khích dọc biên giới CHNDTQ – CHXHCNVN và sự bất ổn nói chung tại Đông Dương. 51 Chính từ đó, tình hình đã chín mùi cho một cuộc đối đầu Trung Quốc – Việt Nam tại hai mặt trận – bởi sự ủy nhiệm dọc theo biên cương Việt Nam – Căm Bốt với Căm Bốt, và xuyên qua sự giao chiến trực tiếp dọc biên giới Trung Quốc – Việt Nam.

       Vào giữa Tháng Mười Hai, Hoa Kỳ và Trung Quốc đã gỡ bỏ có lẽ chướng ngai vật sau cùng cho một cuộc xâm lăng toàn diện vào Căm Bốt bởi Việt Nam.  Hoa Kỳ nhìn chính yếu sự loan báo hôm 15 Tháng Mười Hai 1978 về các quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc được tái lập như một thành quả tự nhiên của nhiều năm thương thuyết và hòa dịu ngoại giao giữa Hoa Thịnh Đốn và Bắc Kinh.  Trong thực tế, thông cáo chung được công bố bởi các nhà lãnh đạo của cả hai thủ đô vào lúc loan báo đã không đề cập gì đến sự hợp tác quân sự giữa hai nước.  Tuy nhiên, bản thông cáo chung có phát biểu rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc “chống lại các nỗ lực bởi bất kỳ nước hay nhóm nước nào khác nhằm thiết lập … bá quyền” tại vùng Á Châu – Thái Bình Dương. 52 Khi được hỏi là liệu sự thiết lập các quan hệ chính thức có làm xấu đi các quan hệ của Trung Quốc với Nga hay không, Chủ Tịch Hoa Quốc Phong tuyên bố rằng các sự liên hệ ảnh hưởng đến Hoa Kỳ và Trung Quốc và không được nhắm để chống lại bất kỳ nước nào. Nhưng Chủ Tịch họ Hoa sau đó tiến đến việc đề cập rằng các ràng buộc giữa Mỹ – Trung Quốc thì thuận lợi cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa bá quyền:

Chúng ta có đề cập đến sự chống đối của chúng ta đối với chủ nghĩa bá quyền trong bản thông cáo chung của chúng ta.  Chúng ta chống đối cả đại bá quyền lẫn tiểu bá quyền, cả bá quyền toàn cầu lẫn bá quyền cấp vùng.  Bản văn này [thông cáo chung] sẽ có lợi cho hòa bình của toàn thể thế giới. 53

       Chính vì thế sự bình thường hóa các quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc và bản hiệp ước Sô Viết – Việt Nam đã có một hiệu ứng phân cực trong cuộc xung đột Trung Quốc – Việt Nam.  Một viên chức tòa đại sứ CHXHCNVN nói với các nhà ngoại giao tại Pháp bày tỏ quan ngại rằng mặc dù các liên hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc không gây ngạc nhiên cho Việt Nam, Hà Nội dù thế lo sợ rằng sự tiến lại gần nhau về ngoại giao sè tăng cường cho ý định của CHNDTQ nhằm thiết lập bá quyền trên vùng Đông Nam Á. 54 Việt Nam tin tưởng rằng Trung Quốc giờ đây có thể tiến hành việc tấn công Việt Nam và tăng cường tiềm năng quân sự của đối thủ của Việt Nam tại Căm Bốt, bởi mối quan hệ mới đã mang lại cho Trung Quốc sự tự tin để kháng cự lại Việt Nam và Sô Viết. 55    

MỘT CUỘC CHIẾN TRANH ĐÔNG DƯƠNG TRÊN HAI MẶT TRẬN

       Vào Ngày Thiên Chúa Giáng Sinh 1978, Việt Nam đã xâm lăng Căm Bốt.  Đó là một cuộc đột nhập lớn nhất vào Căm Bốt bởi Việt Nam trong lịch sử của hai nước.  Ý định của Việt Nam là đánh một trận sinh tử mau chóng vào giới lãnh đạo Khmer Đỏ tại Căm Bốt  và chiếm giữ Phnom Penh trong vòng một hay hai tuần, và đặt người của họ, Heng Samrin, đứng đầu một chính quyền bù nhìn.  Cuộc xâm lăng đã truyền đi các làn sóng chấn động khắp Á Châu.  Khối ASEAN kêu gọi một sự triệt thoái tức khắc, cũng như Liên Hiệp Quốc.  Mặc dù gặp phải sự kháng cự bất ngờ, Việt Nam vẫn cảm thấy tương đối dễ dàng để giành đoạt lợi thế trên các lực lượng Căm Bốt yếu kém hơn.

       Vào ngày 7 Tháng Một, 1979, Công Hòa Nhân Dân Kampuchea được tuyên bố thành lập, với Heng Samrin làm quốc trưởng.  Bất kể đã chiếm giữ được hầu hết các khu vực đô thị, kể cả Phnom Penh, quân đội Việt Nam nhận thấy sự kháng cự tại các khu vực đồi núi của Căm Bốt còn khá mạnh.  Khmer Đỏ rút lui về các vùng cao nguyên nơi nó có thể tái đoàn ngũ hóa và ngăn chặn cuộc tiến quân của Việt Nam.

       Bộ ngoại giao Trung Quốc đưa ra một bản tuyên bố hôm 14 Tháng Một, 1979, kết án cuộc tấn công là “chủ nghĩa bá quyền Việt Nam được tiếp tay bởi đế quốc xà hội chủ nghĩa Sô Viết”. 56 Bất kể việc kêu gọi sự ủng hộ quốc tế trong việc kết án cuộc xâm lăng của Việt Nam, bản tuyên bố đã không đề cập gì đên một phản ứng quân sự sắp xẩy ra của Trung Quốc  chống lại Hà Nội.  Trước và sau cuộc tấn công của Việt Nam vào Căm Bốt, nhiều nhà lãnh đạo khác nhau của Trung Quốc được trích dẫn có nói rằng Trung Quốc có thể sắp phải đi đến đến việc “dậy cho Việt Nam một bài học”.

       Đầu Tháng Hai, điều hiển nhiên là sự hiện diện của Việt Nam tại Căm Bốt không phải là một sự có mặt tạm thời.  Sự cảnh cáo của Trung Quốc đối với Việt Nam vẫn tiếp tục.  Khi bình luận về các sự đe dọa của Trung Quốc, viên chức bộ ngoại giao Việt Nam, ông Nguyễn Duy Trinh, tuyên bố rằng Việt Nam sẵn sàng để nói chuyện với Trung Quốc về một sự đình chỉ chiến sự, làm việc để tiến tới một sự giải quyết các vấn đề lãnh thổ / biên giới, và về vấn đề người gốc Hoa. 57  Vắng mặt một cách đáng chú ý trong các nhận định của ông ta là bất kỳ sự đề cập nào đến cuộc khủng hoảng Căm Bốt vốn tạo thành trở ngại chính yếu làm phân cách Trung Quốc và Việt Nam.

       Cuộc xâm lăng Trung Quốc vào Việt Nam diễn ra hôm 14 Tháng Hai, 1979.  Việc này đã xảy ra  mười lăm tuần lễ sau sự ký kết ban Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác Việt Nam – Sô Viết và chỉ sáu tuần lễ sau cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt.  Trung Quốc đã biện minh cho cuộc xâm lăng bằng việc nói đến nhu cầu cần phản công các bộ đội Việt Nam nhiều lần vượt qua biên giới tiến vào lãnh thổ Trung Quốc và khiêu khích những người sinh sống dọc theo các khu vực biên giới:

Sau khi phản kích quân xâm lược Việt Nam như chúng xứng đáng [nhận lãnh], các binh sĩ biên cương Trung Quốc sẽ nghiêm ngặt tiếp tục phòng vệ biên giới của xứ sở chính mình… hai bên (khi đó phải) tổ chức mau chóng các cuộc thương thảo tại bất kỳ địa điểm được đồng thỏa thuận “để thảo luận” việc tái lập hòa bình và yên tĩnh dọc biên giới. 58

       Các lời tuyên bố chính thức của Trung Quốc loan báo cuộc xâm lăng chỉ đề cập đến các vụ đột nhập biên giới như các nguyên nhân cho sự tấn công.  Ngoài ra, Trung Quốc ưa thích việc xem nhẹ cuộc xâm lăng của nó tại Liên Hiệp quốc, thay vào đó nêu lên sự chú ý đến cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt. 59

Phản ứng của Sô Viết đối với cuộc xâm lăng vào Việt Nam có phần nào hòa dịu.  Mặc dù cơ quan báo chí chính thức của Sô Viết có gọi Trung Quốc là hiếu chiến và theo đuổi chủ nghìa bá quyền vì sự xâm nhập của họ vào Việt Nam, điều thể hiện rõ ràng rằng đáp ứng của Sô Viết chính yếu có tính chất hỗ trợ trong bản chất:

Nhân dân Việt Nam anh hùng, đang trở thành nạn nhân của một cuộc xâm lăng mới, có khả năng tự mình đứng thẳng một lần nữa vào lúc này, và hơn nữa nó có các thân hữu đáng tin cậy.  Liên Bang Sô Viết sẽ tôn trọng các nghĩa vụ của nó đúng theo bản Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác giữa Liên Bang Sô Viết và Công Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Những kẻ quyết định chính sách tại Bắc Kinh phải ngừng lại trước khi quá trễ … Mọi trách nhiệm về các hậu quả của việc tiếp tục xâm lược bởi Bắc Kinh chống lại Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam sẽ bị gánh chịu bởi giới lãnh đạo hiện nay. 60

       Mặc dù lời cảnh cáo từ Mạc Tư Khoa thì cứng rắn, vẫn có các dấu hiệu cho thấy Sô Viết đã không lo âu về việc dính líu vào cuộc xung đột.  Hầu hết các nhà quan sát viên bên ngoài tin tưởng rằng sự đáp ứng của Sô Viết đã phản ảnh nhiều hơn về ước muốn của Sô Viết nhằm phác họa CHNDTQ như một kẻ xăm lăng, và trong nỗ lực để khiến Trung Quốc tin rằng Sô Viết sẽ trợ giúp Việt Nam, mặc dù không có sự đề cập đến loại trợ giúp nào liên hệ đến sự kiện này. 61

       Ngày 24 Tháng Hai, tùy viên quân sự Sô Viết thuộc Tòa Đại Sứ Sô Viết tại Hà Nội lập lại sự cảnh cáo của Mạc Tư Khoa đối với Trung Quốc, nhưng một lần nữa tuyên bố rằng nhân dân Việt Nam có khả năng tự phòng vệ mình. 62 Các sự cảnh cáo của Sô Viết trong cả hai trường hợp diễn ra sau khi phía Trung Quốc công bố rằng các ý định của họ có giới hạn trong cuộc xâm lăng.  Thực sự, đã có một sự sẵn lòng về phía Sô Viết để trợ giúp Việt Nam về mặt tiếp tế và tình báo, nhưng việc giao chiến thực sự hoàn toàn được dành cho phía Việt Nam sao cho không đem các binh sĩ Sô Viết trực tiếp dính vào cuộc xung đột với phía Trung Quốc. 63

       Các lực lượng Trung Quốc đã di chuyển sâu sáu dậm vào lãnh thổ Việt Nam trong vòng bốn ngày, mười lăm dặm trong sáu ngày, và sau cùng hai mươi lăm dậm trong chín ngày (xem bản đồ 1).  Nhưng cuộc xâm lăng thì tốn kém cho Trung Quốc.  Chỉ sau hai tuần giao chiến, Trung Quốc nêu đề nghị hưu chiến và một sự đình chỉ chiến sự tổng quát.  Các quan sát viên bên ngoài thắc mắc về các năng lực của Trung Quốc để chuyển vũ khí đạn được, quân nhu [materiel, tiêng Pháp trong nguyên bản, chú của người dịch] đến khu vực giao tranh.  Ngoài ra, các số tổn thất của cả hai bên biên giới đều gia tăng, cho thấy Trung Quốc phải trả giá đắt cho cuộc xâm lăng.

Bản Đồ 1: Cuộc Xâm Lăng Của Trung Quốc Vào Việt Nam

Việt Nam đồng ý rằng các cuộc hòa đàm thì cần thiết, nhưng ràng buộc chúng vào một sự triệt thoái các lực lượng Trung Quốc ra khỏi Việt Nam.  Điều ngày càng trở nên rõ rệt hơn trong khi cuộc chiến tranh tiếp diễn rằng các nguyên do của Trung Quốc cho việc xăm lăng Việt Nam , có các căn rễ sâu xa, không chỉ để đáp ứng với các vụ đột nhập biên giới, như Bắc Kinh đã tuyên bố nguyên thủy.  Đặng Tiểu Bình tái xác nhận rằng Trung Quốc không muốn dù chỉ một tấc đất của Việt Nam, nhưng đã bổ túc rằng Trung Quốc:

Không thể tha thứ cho quân Cuba phiêu lưu hung hãn mà không bị chặn đứng tại Phi Châu, Trung Đông và các khu vực khác; chúng ta cùng không thể tha thứ cho các Cuba ở Phương Đông phiêu lưu hung hãn mà không bị chặn đứng tại Lào, Căm Bốt hay ngay cả ở khu vực biên giới của Trung Quốc. 65

       Bất kể lời phát biểu của họ Đặng tuyên bố cuộc xâm lăng của Việt Nam vào Căm Bốt như một lý do cho cuộc tấn công của Trung Quốc vào Việt Nam, báo chí Trung Quốc tiếp tục đưa ra các tín hiệu mâu thuẫn.  Tân Hoa Xã phủ nhận rằng cuộc xâm nhập của Việt Nam vào Căm Bốt lại có bất kỳ sự dính líu nào đến cuộc tấn công của họ vào Việt Nam và quả quyết rằng các cuộc đụng độ tại biên giới là nguyên do để Trung quốc “dạy cho Việt Nam một bài học”.

       Vào ngày 4 Tháng Ba, Trung Quốc đã loan báo rằng nó đã chiếm được thành phố Lạng Sơn [trong nguyên bản ghi sai là Long Sơn, chú của người dịch], và tiếp đó tuyên bố chiến thắng (phía Việt Nam cũng làm như thế) và nêu ý kiến rằng một cuộc rút quân sắp sửa xảy ra.  Trong ngày kế tiếp, Trung Quốc loan báo một sự triệt thoái quân sĩ chính thức:

Các binh sĩ biên giơi của Trung Quốc đã đạt được các mục đích được đặt ra cho họ kể từ họ bị bắt buộc phải phóng ra một cuộc phản kích tự vệ vào hôm 17 Tháng Hai chống lại các sự xâm nhập và khiêu khích vũ trang không ngừng của quân xâm lược Việt Nam vào Trung Quốc.

Chính phủ Trung Quốc loan báo rằng bắt đầu từ ngày 5 Tháng Ba, 1979, tất cả các binh sĩ biên giới của Trung Quốc đang triệt thoái về lãnh thổ Trung Quốc.

Chúng tôi không hề muốn lấy dù chỉ một tấc đất của Việt Nam, nhưng chúng tôi cũng sẽ không tha thứ cho các cuộc đột nhập vào lãnh thổ Trung Quốc.  Tất cả những gì chúng tôi mong muốn là một biên giới ổn định và hòa bình.  Chúng tôi hy vọng rằng lập trường này của Chính phủ Trung Quốc sẽ được tôn trọng bởi chính phủ Việt Nam và các chính phủ của các nước khác trên thế giới.

… Chính phủ Trung Quốc đề nghị một lần nữa rằng hai phía Trung Quốc và Việt Nam mau chóng tổ chức các cuộc thương nghị để thảo luận các đường hướng nhằm bảo đảm hòa bình và sự yên tĩnh dọc biên giới giữa hai nước và sau đó tiến hành việc giải quyết cuộc tranh chấp biên giới và lãnh thổ.

… Cùng lúc, chúng tôi hy vọng mọi nước … sè có các biện pháp để thúc dục các giới chức thẩm quyền Việt Nam phải đình chỉ tức khắc cuộc xâm lược của họ chống lại Kampuchea và triệt thoái tất cả lực lượng xâm lăng của họ về lãnh thổ của chính họ nhằm bảo đảm cho lợi ích của hòa bình, an ninh và ổn định của Đông Nam Á, và của Á Châu nói chung. 66

       Như lời loan báo khiến ta suy tưởng, Trung Quốc có các sự quan tâm sâu xa trong cuộc xung đột của nó với Việt Nam hơn là sự tức giận đơn giản phát sinh từ các cuộc khiêu khích vũ trang dọc biên giới của nó với nước láng giềng phương nam.  Lời nhắn nhủ được hướng tới Liên Bang Sô Viết cũng như Việt Nam trong một mưu tính để phản ảnh đường lối cứng rắn mà Bắc Kinh sẵn lòng giữ vững tại Á Châu.  Cùng lúc, nó đã được dùng để thiết lập các ranh giới cho sự cam kết của nó nhằm không mang Sô Viết vào sự liên can trực tiếp trong cuộc chiến.

       Đãi phát thanh Hà Nội đã tức thời đáp ứng vời lời loan báo rút quân và đã đưa ra bản phát biểu như sau:

Nếu Trung Quốc thực sự triệt thoái tất cả các binh sĩ của nó ra khỏi Việt Nam như đã tuyên bố, và sau khi tất cả các lực lượng Trung Quốc đã được rút về phía bên kia của biên giới lịch sử mà cả đôi bên đồng ý tôn trọng, khi đó phía Việt Nam sẽ tức thời sẵn sàng tiến vào các sự thương nghị với phía Trung Quốc ở cấp thứ trưởng tại một nơi và ngày sè được đồng ý về sự tái lập các quan hệ bình thường. 67

       Điều rõ ràng là cả hai bên đều sẵn sàng để chấm dứt chiến sự và lấy làm nhẹ nhõm rằng chiến tranh đang xuống thang.  Giá của chiến tranh thì cao hơn dự đoán đối với Trung Quốc, khi Việt Nam đã có khả năng tập trung sự kháng cự nhiều hơn mức Bắc Kinh ước định từ nguyên thủy.  Phía Trung Quốc đã tiếp tục phá hoại hạ tầng cơ sở của Việt Nam khi họ rút lui, các hành động đã thúc đẩy một sư đáp ứng nghiêm khắc từ Hà Nội, mặc dù các hành động đã không làm phương hại đến các viễn ảnh của các cuộc hòa đàm giữa hai thủ đô.  Vào cuối Tháng Ba 1979, các sự tường thuật có nói đến tầm mức của sự phá hoại gây ra bởi chiến tranh.  Ký giả Jean Thoraval đã tường thuật rằng 80% hạ tầng cơ sở trong khu vực nơi mà quân Trung Quốc đã xâm lăng bị triệt hủy.  Các thành phố bị san bằng thành gạch vụn và các nấm mồ tập thể ở khắp nơi. 68

       Với sự rút quân gần đi đến chỗ kết thúc, Trung Quốc nhất quyết thẳng thắn hơn về các lý do của họ trong việc xâm lăng Việt Nam.  Vào ngày 18 Tháng Ba, Bắc Kinh đã liệt kê năm lý do khiến Trung Quốc cần dậy cho Việt Nam một bài học.  Các lý do này gồm:

       1. Việt Nam đã trở thành một nước bá quyền đại diện cho hình ảnh một siêu cường quân sự thứ ba của thế giới.

       2. Sự từ khước về phía Hà Nội để nhìn nhận tầm quan trọng của biên giới của Trung Quốc và các cuộc độ nhập kế đó vào lãnh thổ Trung Quốc.

       3. Sự ngược đãi người gốc Hoa sinh sống trên đất nước Việt Nam và sự trục xuất có hệ thống bởi các giới chức thẩm quyền Việt Nam.

       4. Sự đàn áp nhân dân Việt Nam xuyên qua sự kiểm soát trong nước hà khắc và qua chiến tranh với nước ngoài.

       5. Sự quan tâm liên tục của Liên Bang Sô Viết trong việc mở rộng các quyền lợi của nó vào vùng Đông Nam Á trong một nỗ lực gài bẫy Trung Quốc với việc bành trướng khu vực ảnh hưởng của Sô Viết. 69

       Mặc dù cuộc chiến tranh toàn diện giữa Trung Quốc và Việt Nam đã qua, điều đó không có nghĩa một sự chấm dứt các thù nghịch sâu xa.  Cuộc giao tranh biên giới vẫn tiếp tục và Trung Quốc đã khởi sự loan truyền các tin đồn về một “bài học thứ nhì”.  Nhưng trên tổng thể, cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đã mang các sự khác biệt của họ đến bàn thương nghị, và tức thời tìm kiếm các phương cách để ngăn cản một cuộc chiến tranh thứ nhì tốn kém khỏi xảy ra.  Trước khi hướng đến một sự phân tích các nỗ lực này trong chương kế tiếp, một sự tóm lược và kết luận thì hữu ích để phác họa các vấn đề chính được nêu ra trong chương này.

KẾT LUẬN

       Chương này đưa ra nhiều luận đề về mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc từ năm 1975 đến 1979.  Luận đề đầu tiên là Trung Quốc và Việt Nam có cái nhìn khác biệt về vai trò chính trị của Hà Nội phải như thế nào tại Đông Dương.  Trung Quốc lo sợ một Việt Nam thống nhất sẽ dẫn dắt người Việt Nam đến việc tìm kiếm một liên bang Đông Dương do Hà Nội khống chế.  Hà Nội tin rằng Trung Quốc ưa thích một Việt Nam bị phân chia hơn và sè cố gắng để ảnh hưởng đến Lào và Căm Bốt trong các đường hướng sẽ không phù hợp với các quyền lợi của Việt Nam.

       Luận đề thứ nhì là Trung Quốc và Việt Nam đã không muốn có một sự cắt đứt hoàn toàn các quan hệ sè khuyến khích sự can dự nhiều hơn nữa của Sô Viết  vào các công việc của Việt Nam.  Vì mục đích này, Hà Nội đã tìm kiếm viện trợ không chỉ từ Mạc Tư Khoa, mà còn từ Bắc Kinh.  Bắc Kinh đã miễn cưỡng cung cấp viện trợ bởi điều mà Bắc Kinh nhìn như sự sẵn lòng rõ rệt của Hà Nội để tìm kiếm viện trợ của Sô Viết và hợp tác với Mạc Tư Khoa.  Sự từ chối không cấp viện trợ đã dẫn dắt Việt Nam lại gần hơn vòng tay của Mạc Tư Khoa, điều kế đó càng làm xa cách Bắc Kinh hơn.

       Luận đề thứ ba khiến ta nghĩ rằng các vấn đề đã phân cách Trung Quốc với Việt Nam, như cuộc xung đột lãnh thổ / biên giới và sự rạn nứt về vấn đề người Hoa sinh sống tại Việt Nam, là những cuộc xung đột phát sinh bởi một sự bất đồng toàn diện giữa hai nước về số phận của Đông Dương.  Khi các chính sách cạnh tranh đụng độ nhau về Căm Bốt, Hà Nội và Bắc Kinh đã tăng cường cuộc chiến tranh bằng lời nói của họ trên các xung đột ngoại vi không dính líu trực tiếp với cuộc khủng hoảng Căm Bốt.

       Ngoài các luận đề này, có nhiều kết luận có thể rút ra từ cuộc thảo luận trên đây:

       1. Các sự khác biệt của Trung Quốc và Việt Nam phản ảnh các sự cứu xét an ninh và quyền lực vốn ảnh hưởng đến mọi quốc gia-dân tộc bất kể đến ý thức hệ.  Ý thức hệ Mác xít từ 1975 đến lúc kết thúc cuộc chiến tranh 1979 chẳng mấy dính dáng đến các vấn đề phân cách Việt Nam và Trung quốc.  Cũng giống như các nước Đông Âu khác biệt với Mạc Tư Khoa trong quan điểm của họ liên quan đến các quan hệ quốc tế và cấp miền, cuộc xung đột Trung Quốc – Việt Nam chính yếu là một thí dụ truyền thống về phương thức làm thế nào mà các quốc gia-dân tộc tìm cách nâng cao quyền lực của họ đối với các quốc gia – dân tộc khác.

       2. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam đã từng bất hòa với nhau trong lịch sử, cuộc xung đột có lẽ phản ảnh nhiều hơn về các mưu tính của Việt Nam và Trung Quốc để được nhìn nhận như các nước có chủ quyền tìm kiếm các quyền lợi dân tộc riêng biệt, và chỉ có ít phần là một sự phản ảnh các quốc gia – dân tộc bị phân hóa bởi các sự khác biệt văn hóa / lịch sử cá biệt.  Không có gì nghi ngờ rằng lịch sử đóng một vai trò quan trọng trong cuộc xung đột, nhưng các sự cứu xét chính trị thực tế (Realpolitik) có tinh cách tối thượng đối với cả Bắc Kinh lẫn Hà Nội.

       3. Cuộc xung đột cũng cho thấy rằng các quốc gia – dân tộc mở cửa ra thế giới bên ngoài lần đầu tiên thì lo lắng bảo đảm sự thành công của họ như các nước có chủ quyền bằng việc tìm cách gia tăng ảnh hưởng củahọ trong các sự vụ cấp miền và quốc tế.  Thời kỳ 1975 đên 1979 là một thời kỳ chuyển tiếp trong các đấu trường chính sách ngoại giao và đối nội cho cả Việt Nam lẫn Trung Quốc.  Trung Quốc thì lo lắng ngăn chặn mối đe dọa của sự bao vây các biên giới của nó để chứng tỏ các năng lực của nó như một quyền lực cấp vùng và thế giới.  Sự tái thống nhất của Việt Nam mang lại cho Hà Nội sự tự tin để tìm kiếm sự thừa nhận rộng rãi trong cộng đồng quốc tế.  Vì thế, Hà Nội đã cảm thấy rằng việc đẩy mạnh cho một ảnh hưởng to lớn hơn tại Đông Dương là một sự đâm chồi hợp lý của sự tự tin mới được tìm thấy này.

       Mặc dù một số vấn đề ngoại vi của cuộc xung đột Trung Quốc – Việt Nam đã giảm thiểu phần nào tầm quan trọng kể từ 1979, cuộc xung đột Căm Bốt vẫn còn là yếu tố chính làm phân hóa Trung Quốc và Việt Nam.  Hai chương kế tiếp sẽ cứu xét cặn kè khía cạnh này của cuộc xung đột./-        

___

CHÚ THÍCH

1. Washington Post, 1 Tháng Năm, 1975.

2. Theo các điều khoản của Hiệp Định Paris, Chính Phủ Cách Mạng Lâm thời (Provisional Revolutionary Government: PRG) được giả định đảm nhận các công việc hàng ngày của nam Việt Nam cho đến khi một sự thỏa thuận khả dĩ chấp nhận có thể được đưa ra về tương lai của Việt Nam bởi các nhà cầm quyền tại Sàigòn và Hà Nội.  Kế hoạch này không bao giờ được ưa thích trong số các nhà lãnh đạo của Hà Nội bởi nó mang ý nghĩa sự kéo dài liên tục của một chính sách hai nước Việt Nam.  Trung Quốc đã tiếp tục sử dụng tổ chức PRG để thực hiện một số công việc chính thức với Nam Việt Nam, một tình trạng khiến cho Hà Nội tức giận.  (Xem Chương 1 [trong nguyên bản])

3. Tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, “Da Nang Incident: June 1975” được tìm thấy tại University of California, Berkeley, Indochina Archives (Văn Khố Đông Dương), Vietnam Collection (Sưu tập Việt Nam) (từ giờ về sau được ghi tắt là DRV Indochina Files), Tháng Sáu 1975.

4. New York Times, August 15, 1975.

5. “Statement of Chinese Foreign Ministry on Expulsion of Chinese Residents by Vietnam: Tuyên Bố của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc về việc trục xuất các cư dân Trung Quốc bởi Việt Nam”, Bộ Ngoại Giao, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, 9 Tháng 6, 1978. Được in lại trong tờ Beijing Review, 16 Tháng Sáu, 1978, các trang 13-17.

6. Văn thư Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, 19-26 Tháng Hai, 1976, “Indications of Strained Relations Between China and Vietnam: Các Dấu Hiệu về Các Quan Hệ Căng Thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam”, DRV Indochina Files, Tháng Hai 1976.

7.  Văn thư Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, 12 Tháng Tư, 1976, DRV Indochina Files.  Hầu hết các văn thư trong hồ sơ này không có nhan đề.  Hồ Sơ DRV là từ 1967 đến ngày nay.  Một dự án đang tiến hành tại University of California, Berkeley.

8. Richard Wich, Sino-Soviet Crisis Politics: A Study of Political Change and Communication (Cambridge: Council of East Asian Studies, 1980), các trang 2-5.

9. New York Times, 11 Tháng Bẩy, 1975.

10. Far Eastern Economic Review (từ giờ về sau viết tắt là FEER), 11 Tháng Sáu, 1976.

11. Đặc biệt, ông Sun đã đề cập đến sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á nói chung khả dĩ chấp nhận được đối với Trung Quốc chứ không phải đối với Việt Nam.  Xem văn thư của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, “SRV-PRC relations: July 1976: Các Quan Hệ CHXHCHVN-CHNDTQ, Tháng Bẩy 1976”, DRV Indochina Files, Tháng Bẩy 1976.

12. Xem “PRC’s Emerging Policy in Southeast Asia: Chinh” Sách Mới Xuất Hiện của Trung Quốc Tại Đông Nam Á”, DRV Indochina Files, Tháng Mười Hai, 1976.

13. Pao-min Chang, Beijing, Hanoi, and the Overseas Chinese (Berkeley: University of California Press, 1982), các trang 21, 25.  Ngay trước khi có cuộc thanh trừng, Đảng Lao Động Việt Nam (tên chính thức của đảng công. sản Việt Nam) đã tổ chức một hội nghị mà phía Trung Quốc từ chối tham dự.  Không có lý do nào được đưa ra, mặc dù Trung Quốc có gửi một văn thư chào mừng.  Xem Kyodo News Service, FBIS Daily Report, China, 10 Tháng Mười Hai, 1976.

14. FEER, 12 Tháng Ba, 1976.

15. New China News Agency (Tân Hoa Xã) (từ giờ về sau viết tắt là NCNA), 3 Tháng Bẩy, 1976, FBIS Daily Report, China, 4 Tháng Bẩy, 1976.

16. NCNA, FBIS Daily Report, China 17 Tháng Mười Hai, 1976.

17. Văn bản của biên bản ghi nhớ này được in lại trong tờ Beijing Review, 20 Tháng Ba, 1979, các trang 17-22.

18. Craig Etcheson, The Rise and Demise of Democratic Kampuchea (Boulder: Westview Press, 1984), trang 16.

19. Finnish Inquiry Commission, Kampuchea: Decade of the Genocide, biên tập bởi Kimmo Kiljumen, (London: Zed Books, 1984).

20. Karl D. Jackson, “Cambodia 1977: Gone to Pot”, Asian Survey (Tháng Một, 1978): 79-80.

21. C. L. Chou, “China’s Policy Towards Laos: Politics of Neutralization” trong quyển Contemporary Laos: Studies in Politics and Society of the Lao People’s Democratic Republic, biên tập bởi Martin Stuart-Fox (New York: St. Martin’s Press, 1982), trang 298.

22. Carlyle A. Thayer, “Laos and Vietnam: The Anatomy of Special Relationship”, trong quyển Contemporary Laos, biên tập bởi Stuart-Fox, các trang 255-56.

23. Arthur J. Dommen, Laos: Keystone of Indochina (Boulder: Westview Press, 1985), các trang 125-26.

24. Chou, “China’s Policy Towards Laos”, trang 298.

25. “Treaty of Friendship and Cooperation Between the Lao People’s Republic and the Socialist Republic of Vietnam: Hiệp Ước Hữu Nghị Và Hợp Tác Giữa Cộng Hòa Nhân Dân Lào và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”, ngày 18 Tháng Bẩy, 1977.  Được in lại trong Chinese Law and Government 16, 1 (Spring 1983).

26. Asia Yearbook, 1976 (Hongkong: Far Eastern Economic Review, 1976).

27. FEER, 14 Tháng Mười, 1977, trang 30.

28. FEER, 23 Tháng Chín, 1977, trang 30.

29. Vietnam Courier (Tháng Mười Một 1977: 7-9).

30. “More on Hanoi’s White Book”, Beijing Review, 30 Tháng Mười Một, 1979, các trang 11-15.

31. “Comrade Hua Kuo-feng’s Speech”, Beijing Review, 23 Tháng Mười Một, 1977.

32. “Comrade Le Duan’s Speech”, Beijing Review, 23 Tháng Mười Một, 1977.

33. NCNA, 30 Tháng Mười Hai, 1977, FBIS Daily Report, China, 31 Tháng Mười Hai, 1977.

34. AFP, FBIS Daily Report, East Asia, 31 Tháng Mười Hai, 1977.

35. FEER, 13 Tháng Một, 1978, các trang 10-11.

36. FEER, 3 Tháng Hai, 1978, trang 22.

37. Một số các nhà phân tích tin rằng Căm Bốt đã phản ứng quá nhanh trước các đe dọa của Việt Nam bằng cách tấn công các làng mạc Việt Nam.  Việc này được lập luận là đã thổi cuộc xung đột đến chỗ công khai.  Xem Karl D. Jackson, “Cambodia 1978: War, Pillage, and Purge in Democratic Kampuchea”, Asian Survey, (Tháng Một 1979)

38. Xem Etcheson, The Rise and Demise of Democratic Kampuchea, các trang 86-89, 193-97

39. Vietnam News Agency (VNA), FBIS Daily Report, East Asia, 7 Tháng Bẩy, 1978.

40. Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Bộ Ngoại Giao, “Report on the International Strategy of China: Báo Cáo Về Chiến Lược Quốc Tế của Trung Quốc”, Tháng Sáu 1978, DRV Indochina Files, Tháng Sáu 1980.

41. Văn thư Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, DRV Indochina Files, Tháng Sáu 1978.

42. TASS (Thông Tấn Liên Sô), 3 Tháng Bẩy, 1978, FBIS Daily Report, East Asia, 6 July, 1978.

43. Christian Science Monitor, 29 Tháng Chín, 1978.

44. Văn thư Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, DRV Indochina Files, Tháng Chín 1978.

45. Renmin ribao (Nhân Dân Nhật Báo), 26 Tháng chín, 1978, FBIS Daily Report, China, 26 Tháng Chín, 1978.

46. “Treaty of Friendship and Cooperation Between the Socialist Republic of Vietnam and the Union of Soviet Socialist Republics: Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác giữa Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Liên Bang Các Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Sô Viết”, 3 Tháng Mười Một, 1978.  Được in lại trong Chinese Law and Government 16, 1 (Spring 1983).     

47. Cuộc họp báo của Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping) tại Bangkok, “Vietnam-Soviet Treaty Threatens World Peace and Security”.  Được in lại trong tờ Beijing Review, 17 Tháng Mười Một, 1978.

48. Văn thư Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, DRV Indochina Files, Tháng Một 1979.

49. Các ghi chú, DRV Indochina Files, Tháng Một 1979.

50. “Statement by Chinese Foreign Ministry Spokesman Supporting Kampuchea’s Just Stand and Condemning Vietnamese Authorities’Aggression and Subversion: Tuyên Bố của Phát Ngôn Viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Về Việc Ủng Hộ Lập Trường Chính Đáng của Kampuchea và Kết Án Sự Xâm Lược và Khuynh Đảo của Nhà Cầm Quyền Hà Nội”, Beijing Review, 22 Tháng Mười Hai, 1978.

51. Văn thư Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, DRV Indochina Files, Tháng Mười Hai 1978.

52. Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, Bộ Ngoại Giao Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, “Joint Communiqué on the Establishment of Diplomatic Relations Between the United States of America and the People’s Republic of China, January 1, 1979: Thông Cáo Chung Về Việc Thiết Lập Các Quan Hệ Ngoại Giao Giữa Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, ngày 1 Tháng Một, 1979”, State Department Bulletin 79 (January 1979): 25.

53. “Chairman Hua Gives Press Conference”, Beijing Review, 22 Tháng Mười Hai, 1978, các trang 9-11.

54. Bất kể các lời tuyên bố rằng sự sáp lại gần nhau giữa Trung Quốc – Hoa Kỳ không làm ngạc nhiên CHXHCHVN, các quan sát viên bên ngoài cho hay rằng sự chuyển động này làm sững sờ phia” Việt Nam, các kẻ cảm thấy rằng họ đã thua cuộc ‘trận chơi bình thường hóa”.  Các nhà theo dõi Hà Nội lập luận rằng Việt Nam đã cố gắng giành đoạt tình hữu nghị của một cựu thù (Hoa Kỳ), nhưng đã bị buộc tiến tới một liên minh không vui vẻ với Liên Bang Sô Viết [sic].  Xem FEER, 29 Tháng Mười Hai, 1978, các trang 14-15.

55. Tài liệu nội bộ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, DRV Indochina Files, Tháng Mười Hai 1978.

56. “Chinese Government Statement, January 14, 1979”, Beijing Review, 19 Tháng Một 1979.

57. VNA, 10 Tháng Hai, 1979, FBIS Daily Report, East Asia, 11 Tháng Hai, 1979.

58. New York Times, 18 Tháng Hai, 1979.  Điều quan trọng cần ghi nhận rằng số ra ngày 2 Tháng Ba, 1979 của tờ Beijing Review nói rằng cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào Việt Nam là một sự đáp ứng trước sự xâm lược của Việt Nam tại biên giới Trung Hoa từ 10 Tháng Tám, 1978, sự ngược đãi người gốc Hoa sinh sống tại Việt Nam và kế đó lưu đầy các cư dân Trung Quốc, và cuộc tấn công vũ trang vào các tàu đánh cá Trung Quốc bởi Việt Nam tại các hải phận quốc tế.

59. New York Times, 18 Tháng Hai, 1979.  Tờ New York Times cũng tường thuật hôm 6 Tháng Ba, 1979, rằng Trung Quốc phủ nhận là cuộc xâm chiêm của Việt Nam vào Căm Bốt lại có dính dáng chút nào đến cuộc tấn công trừng phạt của Trung Quốc chống lại Việt Nam.

60. TASS, 18 Tháng Hai, 1979, được tường thuật trong tờ New York Times, 19 Tháng Hai, 1979.

61. Christian Scienec Monitor, 20 Tháng Hai, 1979.

62. VNA, 24 Tháng Hai, 1979, FBIS Daily Report, East Asia, 26 Tháng Hai, 1979.

63. FEER, 2 Tháng Ba, 1979, trang 12.

64. Các quan sát viên bên ngoài ước đóan rằng đên ngày 25 Tháng Hai phía Trung Quốc cạn kiệt về đồ tiếp tế và nhân lực.  Để tiếp tục chiến dịch trên quy mô rộng lớn sẽ đòi hỏi nhiều sư đoàn và các đơn vị hỗ trợ hơn số mà Bắc Kinh cảm thấy họ có thể điều động  Xem New York Times, 26 Tháng Hai, 1979.

65. New York Times, 28 Tháng Hai, 1979.

66. NCNA, tường thuật bởi tờ Washington PostNew York Times, 6 Tháng Ba, 1979.

67. New York Times, 6 Tháng ba, 1979.

68. Từ một bản tin AFP của Jean Thoraval và được in lại trên tờ New York Times ngày 27 Tháng Ba, 1979.

69. Beijing Review, 23 Tháng Ba, 1979.

____

Nguồn: Steven J. Hood, Dragons Entangled: Indochina and China-Vietnam War, An East Gate Book, M. E. Sharpe Inc.: Armonk, New York & London, England: 1992, Chapter 2: Beiging, Hà Nội, and Indochina – Steps to the Clash, các trang 31-57.  

Ngô Bắc dịch và phụ chú

06.02.2012    

Posted in: Lịch sử