Siêu cường đơn độc nhất

Posted on Tháng Tư 5, 2012 bởi

0



MrTOO chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Foreign Policy

Một chính khách nước ngoài hiếm hoi đến thăm Trung Quốc trong những năm nước này đang tiến hành Cách mạng Văn hóa thường nhìn thấy những tấm áp phích khổng lồ tại sân bay, dướng lên điều nực cười, “Chúng tôi có bạn trên cả thế giới”. Một Trung Quốc xấu xí dưới thời Mao Trạch Đông đã xuất khẩu ra cả thế giới những cuộc “cách mạng” và chiến tranh quân sự kéo dài, đồng thời cũng là kẻ thù không đội trời chung của phương Tây và khối Liên Xô, trên thực tế, Trung Quốc từng là một nước vô cùng xa lánh với thế giới. Họ đã có thiết lập quan hệ trong quá khứ với một số nước như Romani, Ponpot Cam Pu Chia; thậm chí trong những năm ảm đạm, Trung Quốc chỉ thiết lập quan hệ đồng minh thực sự với Albania.

Bốn mươi năm sau, một Trung Quốc mạnh mẽ và quyết đoán đã thu nạp thêm nhiều bạn bè hơn. Họ được hoan nghênh để có sự hiện diện kinh tế của mình bởi nhiều chính phủ (người dân có thể không muốn) tại Châu Phi; nhiều nước châu Âu xem Trung Quốc như một “đối tác chiến lược”, Trung Quốc cũng đã thiết lập được những mối quan hệ với những nền kinh tế mới nổi như Thổ Nhĩ Kỳ, Braxin và Nam Phi. Nhưng bên cạnh Pakistan, nước phụ thuộc vào trợ cấp của Trung Quốc về cả kinh tế và quân sự để làm đối trọng với Ấn Độ thì thực sự Trung Quốc đang thiếu trầm trọng những đồng minh đúng nghĩa.

Đồng minh chiến lược hoặc tình bạn không phải là thứ có thể mua bán và trao đổi một cách bình thường. Nó phải dựa trên những lợi ích chung, được củng cố bằng những giá trị tư tưởng và niềm tin vững chắc. Trung Quốc tỏ ra khôn ngoan trong đường lối “ngoại giao có đi có lại”- bằng cách đi khắp thế giới với đống tiền của họ, hỗ trợ những vùng (thường là nghèo khó, bị cô lập hay bị tàn phá) như Angola hay Sudan để đổi lại là những hợp đồng béo bở về tài nguyên thiên nhiên hay bỏ phiếu chống lại những nghị quyết của phương Tây chỉ trích Trung Quốc về vấn đề nhân quyền. Và nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này sẽ còn bị mất đi những đồng minh thân cận vì ba lý do liên hệ chặt chẽ với nhau: Địa lý, hệ tư tưởng và chính sách.

Trước hết, phải nói là Trung Quốc có một vị trí địa chính trị thuộc hạng khó khăn nhất trên thế giới. Họ có chung đường biên giới với Nhật, Ấn Độ và Nga; ba nước lớn đã có những cuộc giao tranh quân sự với Trung Quốc trong thế kỷ 20. Họ vẫn còn có những tranh cãi về chủ quyền chưa được giải quyết với Nhật và Ấn Độ, người Nga thì lo ngại những bộ lạc du mục của Trung Quốc tràn qua biên giới làm rối loạn dân số Nga ở vùng viễn đông. Khi mà còn đó những tranh chấp về địa chính trị thì những nước này khó mà trở thành đồng minh được. Ở phía đông nam Trung Quốc là Việt Nam, một nước ngang ngạnh có tiềm lực quân sự hạng trung đã không những có nhiều cuộc chiến tranh với Trung Quốc trong quá khứ mà còn chủ động làm dấy lên những cuộc tranh cãi khác xoay quanh vùng tranh chấp ở Biển Đông. Và chỉ băng qua Biển Hoàng Hải là Hàn Quốc, vốn lịch sử là một nước được bảo hộ bởi hoàng đế Trung Hoa, giờ đây lại là một đồng minh rất thân cận với Hoa Kỳ.

Điều đó làm cho những nước yếu như Myanmar, Campuchia, Lào và Nepan có chi phí để Trung Quốc duy trì quan hệ lớn hơn là những lợi ích nhận được. Trong thập niên gần đây, Trung Quốc đã kêu gọi các nước quan trọng hơn trong khu vực Đông Nam Á vào quỹ đạo của họ bằng những ưu đãi về tự do thương mại và quan hệ ngoại giao. Trong khi chiến dịch này tạo ra một quãng thời gian đẹp đẽ ngắn ngủi giữa Trung Quốc và các nước trong khu vực thì việc này lại thất bại nhanh chóng khi mà sự hung hăng ngày càng gia tăng của Trung Quốc trong vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Điều này đã làm cho những nước trong khu vực Đông Nam Á nhận ra rằng cách tốt nhất để bảo vệ an ninh chủ quyền của họ là dựa vào nước Hoa Kỳ.

Trung Quốc có thể là người bảo hộ cho chế độ Bắc Triều Tiên, thế nhưng hai nước lại rất không ưa nhau. Nỗi sợ hãi của Bắc Kinh về một Triều Tiên thống nhất là động lực để họ bơm những khoản viện trợ khổng lồ cho Bình Nhưỡng. Mặc dù Trung Quốc cung cấp túi tiền và năng lượng nhưng Bình Nhưỡng lại chẳng có một chút ơn huệ nào với Bắc Kinh, và hiếm khi hạ cố để thương thảo những lợi ích an ninh với những người đồng nhiệm Trung Quốc: ví dụ như việc theo đuổi chương trình hạt nhân của Bình Nhưỡng làm ảnh hưởng nặng nề đến an ninh môi trường của Trung Quốc. Tệ hơn nữa, Bình Nhưỡng còn liên tục tham dự vào những cuộc đàm phán song phương với Washington sau lưng của Bắc Kinh trong suốt các cuộc đàm phán 6 bên do Trung Quốc tài trợ, điều đó chỉ ra rằng Bình Nhưỡng luôn luôn sẵn sàng bán đi “tình bạn” và hàng xóm của họ cho người nào trả giá cao nhất.

Trong tất cả những nước lân cận thì chỉ có Paskistan mang lại những lợi ích an ninh cho Trung Quốc. Nhưng những yếu kém nội tại đang làm suy yếu Paskistan, từ đó giá trị ròng của mối quan hệ này ngày càng đi xuống. Sự mở rộng thương mại và thắt chặt quan hệ an nình với những nước chuyên quyền trong khu vực Trung Á thường vấp phải sự cạnh tranh mạnh mẽ từ phía Nga và Mỹ; những nước này có thể cần Trung Quốc để cân bằng những nước lớn đang thèm muốn nguồn tài nguyên hay vị trí chiến lược của họ, nhưng họ lại quá lo sợ nếu phải rơi vào quỹ đạo của Trung Quốc để phải thiết lập mối quan hệ đồng minh.

Nếu những ham muốn về địa lý làm cho Bắc Kinh không thể có cho mình những đồng minh thân cận, thì hệ thống một đảng cũng làm thu hẹp giới hạn những nước có thể kết nạp vào quỹ đạo của Bắc Kinh. Những nền dân chủ tự do – hầu như đều giàu có, sức ảnh hưởng lớn và quyền lực – thì Bắc Kinh không thể với đến bởi vì những những quyền lợi quốc gia và quốc tế họ có thể mất khi thiết lập quan hệ đồng minh với một nước chuyên quyền. Trung Quốc và liên minh Châu Âu không thiết lập mối quan hệ đồng minh an ninh; dự định hoa mỹ nâng quan hệ của họ lên tầm “đối tác chiến lược” ngay lập tức bị khoét một hố sâu bằng lệnh cấm vận vũ khí của EU chống lại Trung Quốc và những tranh cãi thương mại không ngừng nghỉ.

Những nước có nền bầu cử dân chủ hiện nay chiếm đến 60% trên toàn thế giới, điều này làm cho những đồng minh chính trị tiềm năng của Trung Quốc thu hẹp hơn nhiều so với những năm 60 hay 70 ở thế kỷ trước. Những nước dân chủ mới nổi như Mông Cổ, người hàng xóm của Trung Quốc, đã phải miễn cưỡng trói buộc mình vào nước chuyên quyền kếch xù bên cạnh. Thay vào đó, họ tìm kiếm quan hệ đồng minh với phương tây về an ninh (và một hình ảnh mà Trung Quốc không mấy vừa mắt khi Mông Cổ và Mỹ vừa có cuộc tập trận quân sự chung). Ngày nay, những mối quan hệ tốt đẹp được ca tụng giữa Trung Quốc với Romani và Albani trong thời chiến tranh lạnh đã sụp đổ. Mặc dù nên dân chủ ở những nước này còn nhiều thiếu sót, thế nhưng những người lãnh đạo của họ hiểu rằng lấn sâu vào mối quan hệ với Trung Quốc có thể làm ảnh hưởng đến cơ hội được trở thành bạn của Tây phương. Quan hệ thương mại với Trung Quốc là một chuyện – và có thể là tất nhiên trong một nền kinh tế hiện đại và hội nhập, thế nhưng đồng thuận về chính sách đối ngoại lại là một chuyện hoàn toàn khác.

Chính sách ngoại giao của Trung Quốc trong ba thập niên gần đây không tập trung vào xây dựng những mối quan hệ đồng minh chiến lược. Thay vào đó, nó nhấn mạnh vào duy trì một mối quan hệ ổn định với Hoa Kỳ, đồng thời tận dụng môi trường hòa bình bên ngoài để thúc đẩy sự phát triển kinh tế nội địa. Chính sách đối ngoại Trung Quốc thời kỳ hậu Mao Trạch Đông tập trung đẩy mạnh gấp hai lần các vấn đề: Bóp nghẹt Đài Loan khi một chính phủ có xu hướng độc lập lên nắm quyền (1995-2008) và tập trung cơ hội lôi kéo các nước đang phát triển chống lại những chiến dịch của phương Tây chỉ trích vấn đề nhân quyền tại Trung Quốc. Đã có những thời điểm Trung Quốc phải dựa vào những mối quan hệ đó (và che đậy những đe dọa) để đạt được mục đích như khi họ thuyết phục những nước như Angeri và Sri Lanka tẩy tray giải Nobel Hòa bình hồi tháng 12 năm 2010 đối với một nhân vật bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba. Nhưng mặt khác, các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn tin rằng cách tốt nhất để một siêu cường có thể bảo vệ được an ninh và những lợi ích là phải tự phát triển mà không cần chú ý đến phần còn lại của thế giới.

Cũng như các nước lớn khác, Trung Quốc cũng những nước thân cận như Bắc Triều Tiên và Myanmar. Trong khi Bắc Triều Tiên đang cho thấy hình ảnh một nước chư hầu có thể trở thành một kẻ nổi loạn nguy hiểm thì Myanmar lại chỉ ra rằng tại sao một nước bảo mẫu như Trung Quốc đừng nên ỷ lại quá nhiều. Đến khi có cải cách chính trị như tại Myanmar, thì Trung Quốc vẫn nghĩ rằng họ có tất cả những lực lượng chính trị kiểm soát trong tay mình, nhưng rõ ràng các nhà cầm quyền Myanmar lại có kế hoạch khác. Họ từ chối hợp đồng xây dựng một con đập thủy điện gây nhiều tranh cãi với Trung Quốc, thả các tù nhân chính trị, mời Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton đến thăm Yangon trong một chuyến thăm lịch sử, trong lúc Trung Quốc bảy tỏ thái độ không hài lòng. Ngày nay, Myanmar dường như đang dần dịch chuyển ra khỏi quỹ đạo ảnh hưởng của Bắc Kinh.

Nhìn rộng ra bên ngoài, Trung Quốc có thể vẫn còn vài nước mà họ có thể coi là thân cận như Hugo Chavez của Venezuela, Robert Mugabe của Zimbabue và Castros của Cuba. Nhưng nhìn chung, đây là những nước lãnh đạo bởi những chính trị gia có kinh nghiệm trong việc lợi dụng sức mạnh của những nước lớn. Ngoài quyền tiếp cận tài nguyên thiên nhiên và được hỗ trợ tại Liên hiệp Quốc thì mối quan hệ với những nước như vậy nhìn chung mang lại rất ít giá trị cho Bắc Kinh. Dù gì, những lãnh đạo của các quốc gia này đang già cỗi và ốm yếu, và một khi những người dân chủ mới lên thay thế thì mối quan hệ với Bắc Kinh có thể sẽ lạnh nhạt đi.

Nga là nước gần Trung Quốc nhất và có mối quan hệ đồng minh với quyền lực gần như ngang bằng. Mối lo sợ và căm ghét phương Tây, đặc biệt là Mỹ đã mang Matxcova và Bắc Kinh lại gần nhau hơn bao giờ hết. Nhưng những lợi ích kinh tế của họ đang thu hẹp lại: Nga đã làm mất lòng Trung Quốc khi đã từ chối vận chuyển vũ khí hiện đại và cung cấp năng lượng, trong khi Trung Quốc đã không hỗ trợ đầy đủ Nga trong việc chống lại hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ và vấn đề Georgia. Nhưng xét một cách chặt chẽ về phương diện chiến lược, Trung Quốc và Nga đã trở thành những đối tác của nhau trong những lúc cần thiết, hợp tác tại Hội đồng Bảo an để tránh bị cô lập khi đưa ra các ý kiến và bảo vệ những lợi ích cốt lõi của nhau. Về vấn đề Iran, họ hợp tác chặt chẽ với nhau để điều hóa áp lực của Phương Tây lên Tehran. Về Syria, họ hai lần bỏ phiếu chống lại nghị quyết của Hội đồng Bảo an để bảo vệ chế độ của Assad. Hiện tại bất cứ một người Nga hay Trung Quốc thành thật nào cũng có thể nói thẳng là hai nước không phải đồng mình, sự bất đồng của họ làm cho mối quan hệ đồng minh đích thực không thể có được.

Sự lớn mạnh về quyền lực của Trung Quốc đã tạo nên nỗi sợ hãi “vấn đề an ninh” khu vực: Thay vì làm cho Trung Quốc trở nên an toàn hơn, sức mạnh đang lên của họ làm dấy lên những lo ngại cho những nước lân cận, và tệ hơn, đã gợi ý cho sự phản ứng mang tính chiến lược từ Mỹ, trước đó đã tuyên bố chuyển hướng chiến lược quân sự sang Châu Á. Sự đối đầu chiến lược mới nổi sẽ thử thách mạnh mẽ tài đối ngoại của Bắc Kinh. Dưới dạng củng cố các quan hệ chiến lược đồng minh thì Trung Quốc cũng không có nhiều lựa chọn cho lắm. Hầu như các nước châu Á đều muốn Mỹ duy trì vai trò cân bằng trong khu vực. Tuy nhiên, có hai con đường khó khăn nhưng đầy hứa hẹn mà Trung Quốc có thể làm. Một là giải quyết những vấn đề còn tồn tại liên quan đến tranh chấp chủ quyền với những nước lân cận và sau đó sử dụng quyền lực của mình để hỗ trợ hệ thống an ninh tập trung vào khu vực này, khi ổn định thì có thể giảm thiểu những mối lo ngại của các nước đó, điều hòa mối quan hệ đối đầu với Mỹ, và xóa bỏ những yêu cầu trong lựa chọn đồng minh. Điều nữa là dân chủ hóa bộ máy chính trị, một động thái mà có thể một lần và mãi mãi xóa bỏ khả năng một cuộc đối đầu chiến lược toàn diện với Mỹ và có thể biến Trung Quốc trở thành “bạn với toàn thế giới”.

© 2012 Bản tiếng Việt TCPT

Posted in: Chính trị